Ngần hỏi câu đó vào buổi sáng, lúc hai người đang ngồi lặt rau ngoài hiên, và cô hỏi nó không rào đón.
"Dì Tư, con hỏi dì một câu, dì không muốn trả lời thì thôi nghen dì."
"Ừ."
"Dì ở đây bảy chục năm. Dì biết hết nhà trong xóm."
"Ừ."
"Vậy chớ mười tháng nay dì có hỏi ai trong xóm về chuyện thằng Thà hôn dì?"
Bà Tư Hoà lặt thêm chừng năm cọng rau.
Bà lặt kỹ, bẻ cuống, bỏ lá úa, để riêng ra một bên, và bà làm chuyện đó chậm hơn mọi khi.
"Hổng có," bà nói.
"Sao vậy dì?"
Bà đặt nắm rau xuống rổ.
"Cô Ngần," bà nói. "Tui hỏi thì người ta phải trả lời."
Ngần chờ.
"Tui hổng muốn ai phải trả lời tui hết," bà nói.
Rồi bà cầm nắm rau lên lặt tiếp.
Ngần ngồi với câu đó suốt buổi sáng, và cô không hỏi thêm chữ nào, vì cô đã học được từ lâu rằng khi người ta đưa cho mình đúng một câu thì cái câu đó là cái người ta chịu đưa, và đòi thêm thì mất luôn cái đã có.
Cô nhẩm lại nó ba lần trong đầu và mỗi lần nó nghe ra một nghĩa khác.
Nghĩa thứ nhất: tui thương hàng xóm, tui không muốn làm khó ai.
Nghĩa thứ hai: tui biết người ta sẽ trả lời cái gì, và tui không muốn nghe.
Nghĩa thứ ba, cái này cô nghĩ tới lúc gần trưa và nó làm cô ngồi im một lúc: tui biết rồi, và hỏi ra thì người ta phải nói dối tui, và tui không muốn bắt ai nói dối.
Cô không ghi ba cái nghĩa đó vô sổ. Cô ghi đúng cái bà nói.
Tui hỏi thì người ta phải trả lời. Tui hổng muốn ai phải trả lời tui hết.
Chuyện cuốn sổ xảy ra vào buổi chiều, và nó xảy ra vì một lý do rất tầm thường: bà Tư Hoà cần tìm giấy tờ đi lãnh tiền công.
Chú Sang ở vựa lúa cần chứng minh nhân dân của Út Thà, giấy chứng tử, và giấy tờ chứng minh quan hệ. Cậu Ba giữ giấy chứng tử. Chứng minh nhân dân thì phải kiếm.
"Nó để đâu đó trong cái thùng," bà nói.
Cái thùng là một thùng các tông đặt dưới gầm giường tre trong gian sau. Ngần bò xuống kéo ra, và nó nặng hơn cô tưởng.
Trong thùng có: hai bộ đồ, một đôi giày bata, một cái nón bảo hiểm nứt vành, một xấp giấy khám sức khoẻ, một cái điện thoại nắp gập hết pin, một bọc ni lông đựng giấy tờ, và ở dưới cùng, dựng nghiêng theo thành thùng, một cuốn sổ bìa xanh.
Ngần lấy bọc giấy tờ ra trước, mở, tìm được chứng minh nhân dân, đưa cho bà.
Rồi cô cầm cuốn sổ lên.
Đó là loại sổ tay học sinh, bìa nhựa xanh, khổ nhỏ, có kẻ ô ly, giá chừng bảy tám ngàn ngoài tiệm tạp hoá. Bìa đã cong, góc sờn, và ở gáy có vệt cong đều của cái kiểu người ta hay cuộn tròn nhét vô túi quần.
Cô mở trang đầu.
Trang đầu kẻ tay thành ba cột bằng bút bi và thước, và chữ viết là chữ của người viết ít, nét to, chữ hoa chữ thường lẫn lộn.
Ngày · Chuyến · Ghi chú
Rồi mấy chục dòng.
2/1 · 14 chuyến · trưa mưa nghỉ 1 tiếng
3/1 · 18 chuyến
4/1 · 18 chuyến · xe tải qua 2 lượt tính đôi
Ngần lật.
Càng lật thì cột thứ ba càng ít, và tới khoảng giữa cuốn sổ thì nó biến mất, chỉ còn hai cột: ngày và số chuyến. Cuốn sổ chạy suốt hai năm rưỡi.
Rồi tới một trang khác hẳn.
Trang này kẻ bốn cột, và chữ ở đây viết nắn hơn, kiểu người ta viết khi biết cái mình viết có thể phải đưa ai đó coi.
Tháng · Công Thà · Công Bo · Đã lãnh
Ngần dò xuống.
Cột Đã lãnh có dấu tích ở mấy dòng đầu.
Rồi hết.
Mười một dòng cuối cùng, cột Đã lãnh để trống. Trống thiệt, không phải quên, vì ở cuối mỗi dòng trống đó có một dấu chấm hỏi nhỏ viết bằng bút chì.
Mười một dấu chấm hỏi, mười một tháng.
Dòng cuối cùng ghi tháng hai.
Sau dòng đó, cuốn sổ trắng.
Ngần lật tiếp cho hết, và tới trang gần cuối thì có một dòng nữa, viết ngang, bằng bút bi khác màu, không nằm trong bảng nào:
Chú Hai nói qua tháng chú gởi. Ghi lại 14/2.
Cô lật ngược lại, chậm hơn, và lần này cô đọc cột ghi chú của hai năm rưỡi đầu.
7/3 · 16 chuyến · bà Chín Rơi đi khám về, xách nặng, phụ xách
19/4 · 20 chuyến · nước lớn, kê thêm ván
2/6 · 12 chuyến · chú Bảy mượn dây, chưa trả
30/8 · 19 chuyến · đám cưới bên xóm trong, chở hai chuyến đồ, hổng lấy tiền
11/11 · 15 chuyến · thằng nhỏ nhà chị Tám té xuống, vớt lên kịp
Mấy chục dòng như vậy.
Ngần đọc chừng hai chục dòng rồi cô ngừng lại, và cô ngồi im, vì cô vừa nhận ra cô đang cầm trong tay cái thứ mà cả cù lao này không còn ở đâu khác.
Mười một năm cái bến đó chạy bốn năm trăm lượt người một ngày, và không ai ghi lại một chữ nào. Xã có bảng thông báo. Vựa lúa có sổ chấm công. Ông trưởng ấp có sổ dời mả. Không ai có sổ của cái bến.
Trừ thằng phụ đò, hai năm rưỡi, bằng bút bi, trong cuốn sổ bảy ngàn.
Cô ngồi trên nền xi măng với cuốn sổ mở trên đùi.
"Dì Tư," cô gọi.
"Gì cô?"
"Dì lại đây coi cái này giùm con."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 42 →