Cha phải cha, con phải đạo con,
Rằng lành, rằng thảo, tiếng hay còn.
Cây kiều, cây tử, đời thường ví,
Chẳng trái lòng nhau mới đặng tròn,
Xuân Tuyết Đàn Ngâm:
Vua phải vua, tôi phải đạo tôi,
Sửa sang giềng mối mới lên ngôi
Minh lương hai chữ vầy trên dưới,
Nước trị nhà an, bốn biển vui,
Thu Băng Đàn Ngâm:
Vợ phải vợ, chồng phải đạo chồng,
Vợ chồng là đạo đất trời thông.
Khó nghèo đều chịu giàu đều hưởng,
Kết tóc trăm năm trọn một lòng,
Xuân Tuyết Đàn Ngâm:
Anh phải anh, em phải đạo em,
Huân trì hai ống thổi nghe êm
Sang đồng một cội, là xương thịt,
Sống thác nương nhau ở dịu niêm.
Thu Băng Đàn Ngâm:
Làm người bậu bạn muốn nên danh,
Lời thẳng khuyên nhau ở lấy lành,
Giao mặt xưa rằng vàng ngọc báu,
Giúp lòng nhân nghĩa, lại thêm xanh,
Anh em Trân, Bửu, ngồi buồn,
Lén qua hoa viện đi luồn xem chơi,
Anh em vừa bước tới nơi,
Phút nghe trong viện có lời đờn ngâm,
Mấy dây cầm sắt hòa thâm,
Đờn ngân tiệp với thơ ngâm ai hoài.
Hai chàng dừng bước vách ngoài,
Rõ ràng nghe đặng sáu bài thơ xưa.
Trời thu đương lúc nắng trưa,
Chị em ngồi nực, vừa ưa buông đờn.
Hai chàng ngoài vách mau chơn,
Bước vào trong viện coi đờn những ai,
Hay đâu hiệp mặt gái trai,
Mày qua mắt lại, hòa hai ngỡ ngàng.
Tuyết, Băng mắc cỡ vội vàng,
Cúi đầu che mặt, hậu đàng trở vô.
Hai con thể nữ hầu cô,
Cất đờn, bưng hộp, nói phô đều cười.
Bửu, Trân, thấy cũng nực cười,
Bước vô trong viện kiếm lời hỏi qua.
Cho hay con tạo khéo ngoa,
Dạo tầm hoa, lại bỗng ra thấy người,
Trần Đoan bạn với hai người,
Ở nơi hoa viện đã mươi ngày rồi,
Thưa cùng quan trấn kíp hồi,
Tần công bèn dựng lễ bồi đưa ra,
Ban cho năm vóc vân sa.
Sâm nhung, Thanh quế để già dưỡng thân,
Lại cho vàng bạc hai cân,
Của đưa chàng rể sắm phần ra đi.
Mười ngày về tới châu Khê,
Người làng đón rước bộn bề lễ nghi,
Tiếng hay, đâu cũng yêu vì,
Hai thầy cử nhỏ đậu thi trở về.
Ai dè chăn ngỗng, chăn dê,
Vận trời ngó lại ra bề người sang,
Bà con họ nội xa đàng,
Võng dù xin rước về làng thuở xưa.
Đỗ nương, Đỗ Khoái đãi, đưa,
Tiệc bồi năm bữa, mới vừa rảnh rang.
Dương Trân, Dương bửu, hai chàng,
Thưa cùng cậu, mẹ, hiệp bàn việc hôn.
Nàng rằng: Nhờ của công môn,
Ban cho vật quý, mình khôn chối từ.
Chưa hay hai gái hoa tươi,
Đứng trong đào liễu đua cười mấy xuân?
Hai chàng đem việc họ Tần
Đờn nơi hoa viện đều phân tỏ tường,
Nàng rằng: Nhờ phước tổ đường.
Cho con gặp thuở khoa trường nên danh.
Nhờ trời phước đặng chữ vinh,
Sau rồi sẽ liệu gia đình mới xong.
Hai con vào chốn thơ phòng,
Ôn nhuần kinh sử lo vòng thi xuân.
Lần hồi ngày tháng tới gần,
Đem nhau cất gánh trông chừng Tràng an.
Hai chàng đi tới Tấn bang,
Vào trường thi hội, bảng vàng đỗ cao.
Trước đền đứng lặng đầu ngao,
Dương Trân Bảng Nhãn, Bửu vào Thám hoa.
Tuy không dành Trạng nguyên khoa,
Cung thiềm, tháp nhạn cũng là á khôi.
Hốt hoa, bào gấm ban rồi,
Quỳnh lâm mở tiệc, chúa tôi phỉ lòng.
Tờ truyền tới trấn Hà đông,
Tần Khanh văn tín vợ chồng đều vui.
Truyền quân lập tức trống hồi,
Tới Nam khang huyện dọn ngôi công đàng.
Cứ theo Trà thạch các làng,
Cất làm nhà cửa nghiêm trang một tòa,
Giấy nêu rường cột nguy nga,
Nam khang một huyện ít nhà dám đang,
Dọn rồi án kỷ rỡ ràng,
Xảy vừa tới lúc hai chàng vinh quy,
Bảng vàng tán đỏ, đều đi,
Ngựa xe võng giá oai nghi chói lòa
Lại thêm áo mão giồi ra,
Lịnh ban gấm nhiễu ngọc ngà thiếu chi,
Khắp nơi châu huyện đều vì,
Thổi kèn, gióng trống, ra đi rước mừng.
Cho hay đỏ tía sắc xuân,
Để dành trong sách giồi thân học trò.
Thật nhờ họ Đỗ ơn to,
Lúc nầy mới đặng trời cho sang giàu.
Châu Khê đùm đậu bấy lâu,
Đền ơn nhờ cậu, trước sau phỉ tình,
Hạc lầu là chỗ dương danh,
Anh em trả nghĩa sư sanh cũng tròn.
Nay đà đẹp mặt mẹ con,
Ở nơi Trà thạch ăn ngon, mặc lành,
Nhờ vua hai chữ hiển vinh,
Một môn dòng họ linh đình tới lui,
Anh em Trân, Bửu chẳng vui,
Nhớ cha đi mất, ngùi ngùi thở than.
Dọn ra trước chốn công đàng,
Đặt làm hương án, một bàn vọng lên,
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 28 →