Họ tên bài vị rõ biên,
Ăn chay nằm đất chúc nguyền vong linh,
Theo nho dùng lễ tam sinh,
Đọc bài văn tế phỉ tình cha con.
Văn Tế Rằng:
Hỡi ôi!
Trăng xế bóng xuân;
Mây giăng lầu Hạc.
Thấy chữ "mặc liên" thơ cũ,
Chi xiết não nùng;
Nghĩ câu ""phong mộc" người xưa,
Càng thêm bát ngát.
Nhớ linh xưa:
Kinh sử đều thông;
Vận thời chẳng đạt,
Công, danh, hai chữ,
Mơ màng bên gối hoàng lương;
Sự nghiệp một câu,
Lấp lửng trong gương bạch phát.
Khắp chùa miễu cây hương cầu nòi giống,
Nghĩa cha con, nghĩa đã đặng tròn;
Trùm non sông lời nói để ghi lòng,
Tình chồng vợ, tình đâu ở bạc!
Thừa ưa cắp một gậy thiền;
Bỗng chốc bẻ hai gương nhạc,
Xiết bao đường sá xa xôi;
Thêm nỗi cửa nhà man mác!
Đau đớn thay! Một cụm tàn huyên;
Ủ ê bấy! hai cành hoa ngạc,
Ngoài bảy chục xuân thu,
Còn thêm nữa: vó câu qua cửa,
Khôn rõ nỗi xa gần;
Trong ba ngàn thế giới,
Biết bao nhiêu dấu thỏ lên đèo,
Khó lường nơi sống thác,
Tu gặp chùa nghèo;
Chơi lầm cảnh khác.
Sớm hôm chuông mõ,
Xưa am mây đã chót nhọc nhằn;
Ngày tháng tương dưa,
Nay rừng bụi ai cùng mặn lạt?
Làng Trà thạch, đá buông lời nói khống,
Biết đâu tìm dấu Như Lai;
Đất châu Khê, hoa chảy nước mắt đầm,
Khó nỗi hỏi tin Bồ Tát.
Phải gặp thuở qua miền Đông độ,
Rước cha trở lại,
Trong nhà cũng có thích Già;
Nào ai biết tới cõi tây phương,
Xin cha lộn về,
Ở nước há không Di Lặc?
Hộ; là cậy, mất cha nào cậy,
Muốn hỏi han mà cửa Phật vắng hiu;
Ai; là thương, thấy mẹ thêm thương,
Luống trong nhớ, mà tuổi trời nặng vác.
Hỡi ôi!
Sang giàu một giấc,
Mây nổi hoa tàn;
Sự nghiệp trăm năm,
Nước xao, bèo dạt!
Đã biết: cha nghề nào, con nghề nấy,
Mới phải nhân tình;
Há ngờ cha đường nọ, con đường nầy,
Cũng vì thiên các...
Vái Phật mở câu giới cấm,
Hưởng cô nhi mấy tiệc cỗ bàn;
Nhờ vua đặng chữ vinh quy;
Xin hiển khảo dùng thoi vàng bạc.
Đọc rồi văn tế linh cha,
Một môn già trẻ, đều hòa khóc than,
Vô, ra, dù, võng, nhộn nhàng,
Đãi đàng trên dưới cỗ bàn, no say.
Tiệc mừng vừa đủ mười ngày,
Tần Khanh sai kẻ lễ bày đính duyên.
Mừng cho hai rể đặng tiên
Ngàn năm tiếng rạng, danh biên thẻ ngà.
Hai chàng Bảng nhãn, Thám hoa,
Khiến người lên tạ nhạc gia ơn, rồi.
Lương duyên hai chữ thêm giồi,
Trần Đoan vừa tới lo bồi nghinh hôn.
Đỗ nương vâng lịnh công môn,
Chờ ngày giờ tốt nghinh hôn đem về.
Sửa sang sáu lễ nên xuê,
Họ hàng mới nhóm, toan về phụng chiêm.
Hay đâu trăng tỏ mây êm,
Hằng ga núp bóng cung Thiềm bạc sao!
Hỏi đôi chén ngọc chờ trao,
Dương Trân nhuốm bịnh liền đau thương hàn,
Trong nhà lo việc thuốc thang,
Rước thầy hay trị, ngày càng ốm hư,
Tần Khê có dạ ưu tư,
Ra tờ khắp chốn cầu sư tới liền.
Lối này tới cảnh người tiên,
Nơi chùa Linh diệu ở miền Thiên thai.
Dương Từ, Hà Mậu hòa hai,
Bấy lâu ở chốn Quỳnh đài dạo chơi,
Theo tiên hầu nửa tháng trời,
Tấm lòng rửa sạch, việc đời lãng xao.
Lão Nhan coi số Thiên tào,
Đòi hai người vào, nói chuyện trần duyên.
Rằng: Hai họ có căn duyên,
Trời đà trước định, kết nguyền thân gia.
Rày nên sum hiệp một nhà,
Con trai, con gái, thảy đà thành thân.
Họ Hà nghe nói hỏi phăng,
Rằng tôi đi khỏi mới gần nửa trăng.
Trong nhà hai gái còn măng,
Tuổi trời chưa mấy, sao rằng thành thân?
Đáp rằng trên dưới có phần,
Non tiên một bữa, cõi trần một năm,
Toán theo giáp tý thời lầm,
Tuyết, Băng nay đã mười lăm tuổi rồi.
Đạo trời đã biết thời thôi,
Hai người khá kíp phản hồi cố hương,
Lão Nhan làm phép thâu đường,
Cho hai hoàn thuốc cứu chàng Dương Trân,
Hai người về cõi hồng trần,
Sang giàu chung hưởng nhờ phần lộc con,
Lộc con là lộc trời còn,
Nhân luân hai chữ vuông tròn mới an.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 29 →