Gốc rạ đâm vô lòng bàn chân Kình, nhọn như đầu đũa, mỗi bước một cái.

Nó đi đầu, gậy vông chống xuống đất khô, chống nhẹ, như chị Nghêu dặn. Sau lưng nó, bốn người đàn ông trong ấp khiêng ngoại. Ông Hai Mập với thằng Tửng đằng trước, hai anh con trai bà Bảy đằng sau. Đòn khiêng cót két theo nhịp chân. Đồng đã gặt từ trước Tết, đất nứt thành từng ô như mai rùa.

"Kình," ông Hai Mập nói sau lưng nó, thở hổn hển. "Đi chậm lại chút con. Tới khúc gò là dốc."

"Dạ."

"Bả nhẹ hều mà sao khiêng nặng vậy không biết."

"Tại ông mập, ông Hai," thằng Tửng nói.

"Mày im. Khiêng đi."

Piên đi ngay sau đòn khiêng. Cô ngân. Không lời, không bài, chỉ một cái điệu thấp, đều, lên một chút khi bốn người khiêng nhấc chân, xuống một chút khi họ đặt chân. Mấy người khiêng nghe, bước chân tự nhiên đều lại theo, không ai vấp.

Gò đất cao nằm sau vườn thuốc của ngoại, chỗ nước nổi năm nào cũng không lên tới. Ông Sáu đứng chờ bên cái huyệt đào sẵn từ sáng, tay còn cầm cuốc.

"Sâu chưa ông?"

"Sâu rồi. Tao đo hai lần." Ông Sáu chống cuốc. "Chỗ này cao. Nước năm nào lớn cỡ nào cũng không tới. Bả nằm khô."

Họ đặt ngoại xuống.

Có tiếng khóc ở đâu đó phía sau. Tiếng khóc của chị Chín Lụa, rồi của một người khác. Một bà cụ trong ấp, lưng còng gần gập đôi, chống gậy đi lên phía trước, đặt tay lên vai chị Chín.

"Bớt khóc," bà cụ nói. "Bớt khóc cho bả đi nhẹ. Khóc nhiều bả đi không đành."

Chị Chín cắn môi. Tiếng khóc nhỏ lại.

Ông hương chức xã đứng lên. Ông mặc áo dài đen, khăn đóng, cầm một tờ giấy mà không nhìn. Ông hắng giọng hai lần.

"Bà Tư Nhài," ông nói, giọng sang sảng như đọc ở đình, "là người bán thuốc nam hiền lành trong ấp. Ba chục năm bốc thuốc cho bà con, ai nghèo thì bà lấy trứng, lấy muối. Bà sống ngay thẳng, không dính chuyện ngải nghiếc gì."

Không ai nói gì, cũng chẳng ai cãi. Kình đứng ngay đầu huyệt, gậy vông trong tay, nghe mà không ngó ông.

Cả ấp đã có lần gõ cửa sau nhà ngoại lúc canh ba. Ông hương chức cũng đã gõ, năm ông té gãy ống chân trên bờ ruộng.

Phía ngoài hàng rào tre bao quanh gò, thầy Đức đứng.

Thầy không vô trong. Thầy đứng sát rào, áo chàm, nón cầm tay. Lúc ông hương chức nói tới chữ ngải nghiếc, Kình liếc ra thấy hai ngón tay trái của thầy, buông bên đùi, gõ xuống. Một. Hai. Thầy không nói gì. Thầy đứng nguyên đó, mặt không đổi.

Ông hương chức nói thêm vài câu về phúc đức, về con cháu, rồi gấp tờ giấy lại, lui ra. Kình bước theo ông mấy bước, tới chỗ gốc mận.

"Ông Hương."

"Gì con?"

"Sao ông nói ngoại con không dính ngải?"

Ông hương chức ngó nó. Ông không giận. Ông thở dài.

"Tao nói cái người ta cần nghe."

"Ngoại con bốc ngải cho ông. Hồi ông gãy chân."

"Tao nhớ."

"Vậy sao ông nói..."

"Mày ngó ra ngoài rào coi." Ông hất cằm, không quay đầu. "Ai đứng đó?"

"Thầy Đức."

"Người Giám." Ông nói nhỏ lại. "Tao mà nói thiệt, mai sổ Giám có tên bả. Chết rồi còn bị ghi. Mày muốn vậy hả?"

Kình im.

"Mày muốn tao nói thiệt hả con?"

"Dạ không." Nó cúi đầu. "Con cảm ơn ông."

"Cảm ơn gì." Ông hương chức vỗ vai nó, vỗ nặng tay. "Bả bó chân cho tao. Tao nói láo cho bả. Huề."

Người ta hạ huyệt. Chị Nghêu đứng cạnh Kình, chị lượm một nắm đất mới, đặt vô tay nó.

"Bỏ xuống."

"Bỏ sao chị?"

"Bỏ nhẹ. Đất chớ đâu phải đá." Chị nắm lấy cổ tay nó, đưa tay nó ra trên miệng huyệt. "Thả."

Nó thả. Nắm đất rơi xuống, vỡ ra trên tấm ván, nghe lộp bộp như mưa đầu mùa trên mái lá.

"Bà cụ nói đừng khóc," Kình nói.

"Thì đừng khóc."

"Con có khóc đâu."

"Tao biết." Chị Nghêu lượm thêm một nắm, thả xuống, không nhìn nó. "Mày nói tao nghe làm gì."

"Chị thì sao?"

"Tao làm sao?"

Kình không trả lời. Nó ngó qua. Chị Nghêu đứng thẳng, cằm hếch lên, mắt ngó ra đồng, hai má ướt đẫm, mà miệng chị mím chặt, không một tiếng.

"Lấp đi," chị nói, quay sang mấy người cầm cuốc. "Lấp cho cao. Mùa nước tới mà sạt là tao đào lên chôn lại mấy người."

Người ta lấp. Ông Sáu cắm một tấm thẻ tre ở đầu mộ, chữ viết tạm bằng than.

"Cắm tạm," ông nói. "Mai mốt có bia, tao khắc."

"Ông khắc được hả ông Sáu?"

"Tao không khắc được thì tao xuống chợ thuê ông Năm Được. Ổng cụt ngón mà ổng khắc thiệt."

Người trong ấp lần lượt tới thắp nhang, vái, rồi về.

Thầy Đức vô sau cùng.

Thầy mở cổng rào, bước vô. Thầy đi thẳng tới đầu mộ. Thầy rút một nén hương trong ngực áo, châm vô ngọn nhang của người khác đang cháy, cầm hai tay. Thầy vái. Một vái. Hai vái. Ba vái. Thầy cắm nén hương xuống đất mới, ngay trước tấm thẻ tre, cắm thẳng, ấn xuống cho chắc.

Rồi thầy quay ra.

Đi ngang Kình, thầy dừng một nhịp. Kình ngẩng lên. Thầy nhìn nó. Nó nhìn thầy. Không ai nói câu nào. Thầy không gật, nó không cúi. Cái nhìn đó lâu cỡ một hơi thở dài.

Thầy đi ra cổng rào, đi xuống bến. Chiếc ghe nhỏ của thầy vẫn đậu ở đó từ chiều hôm trước. Thầy xuống ghe, cầm chèo. Ghe rời bến, không nhanh không chậm, đi khuất sau rặng bần.

Đêm đó, nhà vắng. Khuê với Piên ngủ ngoài nhà trên. Thầy Khiêm ngồi ngoài hiên, không ngủ. Cộc không biết ở đâu.

"Con ngủ đi," thầy Khiêm nói vọng vô, không quay lại.

"Dạ. Thầy cũng ngủ đi thầy."

"Ta ngồi chút."

Kình đi vô buồng.

Bộ ván trống. Chiếu đã cuộn lại, dựng ở góc. Cái gối của ngoại còn để ở đầu ván, lõm một chỗ. Trên cái ghế cạnh ván, chỗ hôm trước để đèn, giờ có hai món đồ.

Cái muỗng sứt. Chị Nghêu đã gỡ nó ra khỏi tay ngoại trước khi liệm, gỡ từng ngón một, lâu lắm, rồi rửa sạch, đặt ở đây.

Và con dao nhỏ ngoại vẫn dùng xắt thuốc. Lưỡi mỏng, mũi nhọn, cán bằng sừng trâu mòn bóng.

Kình cầm cái muỗng lên bằng tay trái. Cầm con dao lên bằng tay phải. Nó đứng giữa buồng, một tay một món, ngó cái ván trống.

Hết Chương 98
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 99 →
← TrướcTiếp →