Chị Nghêu giật sợi dây chuối khô đang vòng hai vòng qua bụng Kình, mạnh tới nỗi nó suýt chúi tới trước.
"Đứng cho thẳng."
"Chặt quá chị."
"Chặt mới không tuột." Chị thắt nút, giật thêm cái nữa cho chắc. "Tuột giữa đám là người ta cười. Bà mày nằm trong đó nghe người ta cười cháu bả, bả ngồi dậy chửi tao."
Kình đứng thẳng. Sợi dây chuối thô ráp cạ qua vải áo, mùi chuối khô ngai ngái. Chị Nghêu lùi lại một bước, ngó nó như ngó một bó thuốc mới buộc.
Rồi chị đi ra sau hè. Có tiếng dao chặt xuống gỗ, cụp, cụp, cụp. Chị trở vô, tay cầm một khúc cây vông dài ngang ngực nó, vỏ còn xanh, mấy cái gai nhỏ đã được chị gọt trụi.
"Cầm."
"Cái gì đây chị?"
"Gậy." Chị dúi vô tay nó. "Mẹ mất thì con chống gậy vông. Má mày không còn thì cháu chống thay."
"Con là cháu."
"Thì cháu chống." Chị nhìn nó. "Bả nuôi mày từ nhỏ. Mày không chống thì ai chống. Thằng Tửng hả?"
"Dạ."
"Dạ thì cầm cho chắc. Đừng chống như chống sào. Chống nhẹ thôi, đi chậm. Người ta đi sau mày."
Kình nắm khúc vông. Nhựa vông còn dính tay.
Trên hương án kê ở nhà trên, chị Nghêu đã đặt sẵn một xấp khăn tang trắng, gấp vuông vức. Chị lấy một cái, mở ra, quấn lên đầu nó, buộc ra sau. Chị làm nhanh, không nói thêm. Tay chị không run. Chỉ có lúc buộc nút, chị kéo hơi mạnh, mạnh hơn cần.
Lá thư dưới chân lư hương thì sáng nay Kình đã gấp tư, đưa chị lúc liệm. Chị nhét vô tay áo ngoại, không hỏi thư gì.
Dưới bếp, Piên nấu cơm cho người tới phụ. Nồi cơm lớn mượn của nhà bà Bảy, khói bốc nghi ngút. Cô không ngân, không hát. Cô nấu.
Từ trưa, cả ấp tới.
Kình là người duy nhất trong nhà biết chữ, trừ Khuê, mà Khuê chưa thuộc tên hết người trong ấp. Ông Sáu đem tới một cuốn sổ trắng, đặt lên cái bàn tre ngoài hiên. Kình ngồi xuống, gậy vông dựng bên cạnh, nghiên mực, bút. Người tới phúng xếp hàng trước hiên.
"Ông Hai Mập. Nửa thúng gạo."
Kình ghi. Ông Hai Mập. Gạo nửa thúng.
"Chị Chín Lụa. Một chục trứng vịt."
"Dạ."
"Mày ghi là trứng vịt nghen. Đừng ghi trứng gà. Trứng gà là của người khác."
"Dạ, trứng vịt."
Bà Bảy đầu xóm đưa hai tiền, một bó nhang. Thằng Tửng đưa ba đồng, đỏ mặt, nói chừng đó thôi, rồi chạy đi. Bà cụ Chín Mận đưa một gói muối hột, nói nhà không có gì khác. Kình ghi từng dòng. Chữ nó đứng đều, không run.
Tới một ông già lưng còng, râu bạc lưa thưa, Kình chưa thấy mặt bao giờ. Ông đặt lên bàn một xâu khô cá lóc.
"Tên ông là gì ông?"
"Tôi tên Lành."
"Dạ, Lành." Kình ghi.
"Mà người ta kêu tôi là Ba Lành."
"Dạ." Kình ghi thêm chữ Ba phía trước.
"Mà trong sổ xã thì tôi là Nguyễn Văn Lành." Ông vuốt râu. "Hồi trước bà Tư bốc thuốc cho vợ tôi, bả ghi sổ bả là ông Lành bên kia rạch. Bả không biết chữ, bả nhờ ông Sáu ghi."
Kình ngó ông, ngó cuốn sổ. Rồi nó cúi xuống, viết cả ba. Lành. Ba Lành. Nguyễn Văn Lành, ông Lành bên kia rạch.
"Con ghi cả ba rồi ông."
"Vậy được." Ông Ba Lành gật đầu hài lòng. "Bả gặp ở dưới thì bả nhận ra cái nào cũng được."
Người đứng sau lưng ông cười khúc khích. Kình cũng nhếch miệng một chút. Chút thôi, rồi thôi.
Gần chiều, bà Ba Khô từ chợ lên. Bà đi ghe người quen, xách một cái bọc lá chuối to bằng cái nón. Bà đặt cái bọc xuống bàn, cái bộp.
"Tôm khô."
"Dạ, bà Ba. Tôm khô." Kình ghi.
"Không phải phúng bà Tư." Bà Ba chống tay lên bàn, nói nhỏ, mà nhỏ kiểu ngoài chợ, ai đứng gần cũng nghe. "Bà Tư thì tui phúng cái khác. Cái này cho con mèo mày đi kiếm bữa hổm."
Kình ngừng bút.
"Con gì bà?"
"Con mèo. Cái con tui nghe mà không thấy đó." Bà hất cằm vô nhà. "Bữa kia nó ghé sạp tui. Ngồi lún cái mẹt mà không chịu ăn. Ngửi rồi bỏ. Tui tức."
"Bà thấy nó hả bà?"
"Mắt tui già, thấy cái gì. Tui nghe thôi. Nghe thì biết là có." Bà gõ ngón tay lên bọc tôm. "Mày đưa nó. Nói bà Ba cho. Lần này nó không ăn thì thôi, tui không cho nữa."
"Dạ. Con ghi là của ai bà?"
"Ghi tên tui. Ghi cho nó."
Kình ghi. Bà Ba Khô. Tôm khô một bọc. Cho Cộc. Nó ngó chữ Cộc nó vừa viết. Cái chữ Kình tự ghép hồi nào, bộ khẩu với bộ thủ, nằm trong cuốn sổ phúng như một người khách lạ.
Chạng vạng, người về bớt. Khuê đi ra hiên, ngồi xuống cái đòn kê bên cạnh nó. Cô cầm một tấm gỗ nhỏ, bào nhẵn, đánh một lớp sơn mỏng còn mùi.
"Ông Sáu đưa," cô nói. "Để viết bài vị cho bà."
Kình ngó tấm gỗ.
"Huynh." Khuê đặt tấm gỗ lên bàn. "Muội viết bài vị cho bà được không?"
"Khuê viết đi."
"Huynh là cháu. Theo lệ, chữ của cháu thì..."
"Tay tui chưa đẹp." Kình đẩy nghiên mực về phía cô. "Chữ tui như con lươn mắc câu. Ông Sáu nói vậy. Khuê viết đi."
Khuê ngó nó một lúc. Rồi cô gật.
Cô chấm mực. Cô viết. Chậm, chậm hơn mọi khi cô viết, mỗi nét đặt xuống rồi mới nhấc lên, không vội, không run. Kình ngồi bên cạnh, ngó từng nét. Nét ngang. Nét sổ. Nét chấm. Nó không đọc từng chữ. Nó chỉ ngó ngòi bút đi trên mặt gỗ, như ngó ngoại bốc thuốc hồi nhỏ, từng nhúm từng nhúm.
Viết xong, Khuê thổi nhẹ lên mặt gỗ cho khô mực. Cô đặt bài vị đứng dựa vô nghiên.
"Đủ thể thức," cô nói. "Muội không để trống chỗ nào."
"Ừ."
Ngoài bến rạch có tiếng mái chèo. Một chiếc ghe nhỏ, mui thấp, cập vô sát cọc cầu. Không ai bước lên.
Kình ngó ra. Trong khoang ghe có một người ngồi, áo chàm, lưng thẳng, cuốn sổ đặt trên đùi. Thầy Đức. Thầy ngồi đó, hai tay đặt yên trên bìa sổ, nhìn lên căn nhà có đèn và khăn trắng, không đứng dậy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 98 →