Bà Tư Nhài đặt vào tay Khuê một tờ giấy bản đã ngả vàng ở mép và một cây bút lông cũ, lông bút xơ ra như râu bắp.
"Tay ngoại run rồi," bà nói. "Con viết giùm ngoại một lá sớ."
Khuê nhìn cây bút. Cán tre đã đen bóng vì tay cầm, chỗ giáp lông quấn một vòng chỉ để khỏi tuột. Cô không biết cây bút này của ai. Cả nhà này chỉ có Kình biết chữ, và Kình viết bằng bút Giám.
"Thưa bà, con xin phép đi lấy nghiên mực."
"Nghiên dưới gầm ván. Mực còn từ hồi ông Sáu viết thư cho thằng Kình."
Khuê cúi xuống lấy. Cô mài mực trên cái nghiên đá nhỏ, mài chậm, cho đều tay, cho cái run trong cổ tay mình tan ra trước khi chấm bút. Ngoài nhà, tiếng chén đũa Piên dọn khua lách cách. Kình đã ra rạch rửa chảo. Thầy Khiêm ra hiên. Trong buồng chỉ còn hai người.
"Con viết đi. Ngoại đọc."
"Dạ. Bà đọc chậm cho con theo."
Bà nằm nghiêng, mắt nhìn lên chỗ mái lá giáp vách, đọc từng câu như đọc giá thuốc.
"Con là Tư Nhài. Ở ấp Vàm Tre, dưới chân núi Dài."
Khuê viết. Cô viết đúng thể sớ, mở đầu bằng xưng danh, nét chữ đứng, khoảng cách đều như cô đã chép hàng trăm lá sớ mẫu ở Giám.
"Con có đứa cháu ngoại. Nó sắp đi đường xa."
"Thưa bà, đi đâu ạ?"
"Ngoại không biết đi đâu. Đường xa là được."
Khuê viết viễn hành.
"Con xin cho nó đi đường xa được bình an. Đi tới đâu có cơm ăn tới đó. Gặp người thì gặp người tử tế. Gặp thần thì gặp thần chịu nghe."
Khuê viết. Câu cuối cô dừng bút một nhịp, rồi viết đúng như bà đọc, không sửa thành chữ đẹp hơn.
"Tên cháu," bà nói. "Con viết Kình."
Khuê chấm mực. Ngòi bút đặt xuống chỗ đầu dòng, chỗ theo thể thức phải có họ đứng trước.
"Thưa bà, họ của huynh ấy..."
"Để trống."
Khuê ngẩng lên. "Để trống ạ?"
"Để trống chỗ họ. Viết Kình thôi."
"Thưa bà." Khuê cầm bút lơ lửng trên giấy. "Sớ dâng lên mà thiếu họ thì không đủ thể thức. Người nhận đọc thấy chỗ trống, sẽ cho là người viết sơ suất, hoặc cố ý giấu điều gì. Ở Giám, con được dạy một lá sớ thiếu chữ là một lá sớ không được đọc tới."
"Ở Giám." Bà nhắm mắt. "Thần biết nó là ai. Sổ không biết thôi."
Khuê ngồi im.
"Con để trống đi," bà nói. "Thần đọc tới chỗ trống thì thần biết."
Khuê để trống. Cô nhích ngòi bút sang phải một khoảng bằng hai chữ, rồi viết chữ Kình. Bộ ngư bên trái, con cá. Tay cô run. Tới nét cuối của chữ Kình, ngòi bút giật một cái, mực nhòe ra, lem thành một chấm đen to bằng hạt đậu.
"Lem rồi," cô nói. "Con xin viết lại tờ khác."
"Lem thì để lem. Thần không chấm điểm."
Khuê đặt bút xuống. Cô nhìn tờ sớ: những dòng chữ đứng đều, cái khoảng trắng giữa dòng, chữ Kình lem ở cuối.
Cô nghe chính mình nói, trước khi kịp quyết định có nói hay không.
"Thưa bà. Con có điều phải thưa."
"Thưa đi."
"Con tới đây là vì lệnh Giám." Khuê nhìn xuống hai bàn tay mình. "Không phải tiện đường. Con có hai tờ lệnh. Một tờ đóng ấn Học chính. Một tờ gấp riêng, dặn mỗi tuần một thư, chép huynh ấy đi đâu, gặp ai, nói gì."
Bà không mở mắt.
"Mấy lá thư đầu, con gửi cha. Có tên huynh ấy. Con viết thầy thuốc thay thầy ngải, mà vẫn là tên huynh ấy." Giọng cô đều, như đọc một bản kê. "Con ăn cơm nhà bà, con ngủ dưới mái nhà bà, con nhận gói đường bà cho. Mà con chép tên cháu bà gửi đi."
"Hết chưa?"
"Dạ, hết."
Bà mở mắt. Bàn tay bà trên mép mền thò ra, nắm lấy cổ tay Khuê. Bàn tay khô, mỏng, lạnh, mà nắm chặt hơn Khuê tưởng. Nắm cho tới khi cổ tay cô thôi run.
"Ngoại biết."
"Bà biết?"
"Con nhỏ biết chữ, áo xanh rêu, đi xuồng thư Giám, tới nhà người ta ở mà không có việc gì làm." Bà nhếch miệng. "Ngoại không biết chữ mà ngoại biết đếm."
Khuê không nói được.
"Người ta viết sẵn vai cho con," bà nói, chậm, "thì con xé. Hát bội người ta có cái vai đi ra là cả rạp chửi. Kêu là kép độc. Con đừng nhận mình là cái vai đó."
"Dạ."
"Con nghe chưa?"
"Dạ."
"Dạ là nghe hay dạ là cho qua?"
Khuê muốn nói một câu cho ra hồn. Một câu có đủ chủ ngữ, có đủ ý, như cô vẫn nói. Không có câu nào tới.
"Dạ," cô nói lần nữa.
Bà buông cổ tay cô ra, vỗ lên mu bàn tay cô hai cái, rồi nhắm mắt lại.
Khuê cầm tờ sớ đi ra. Cô đi qua nhà ngoài, đi ra hiên, đi qua giậu, cứ đi, cho tới khi chân dừng lại ở bờ ruộng đầu xóm, dưới gốc me.
Thầy Đức ngồi dưới gốc me, trên một cái rễ trồi lên. Cuốn sổ tuần vùng gập lại, đặt trên đùi. Bút không cầm trong tay.
"Cô Khuê."
"Thưa thầy." Khuê đứng lại. "Thầy về từ bao giờ?"
"Từ trưa." Thầy nhìn ra đồng khô. "Tôi định vô thăm bà. Tới giậu thì nghe nhà đang ăn, tôi ra đây ngồi."
"Thầy đang ghi sổ ạ?"
"Không." Thầy đặt một bàn tay lên bìa sổ. "Hôm nay tôi không ghi gì."
"Đúng phép thì mỗi ngày thầy phải ghi."
"Đúng phép thì tôi phải ghi." Thầy gật. "Ngày nào cũng ghi. Ngày nào không có gì thì ghi là không có gì."
"Hôm nay có gì không ạ?"
Thầy Đức nhìn cô, nhìn tờ giấy cô cầm, nhìn chấm mực lem ở cuối dòng.
"Có."
"Vì sao thầy không ghi?"
Thầy im một chút. Hai bàn tay thầy nằm yên trên bìa sổ.
"Có những ngày," thầy nói, "người ta chỉ nên ngồi."
Khuê đứng đó. Rồi cô ngồi xuống, trên cái rễ me bên kia, cách thầy một khoảng bằng một người ngồi. Hai người ngồi nhìn ra đồng khô. Không ai nói thêm.
Chạng vạng, cô đứng chờ ở bậc cửa cho tới khi Kình về. Cô đưa tờ sớ cho nó.
"Bà dặn đốt cùng nhang."
Kình châm ba cây nhang, rồi châm góc tờ sớ vô ngọn đèn trên bàn thờ. Nó cầm tờ sớ đứng trước bát hương. Lửa bắt từ góc dưới, đỏ lên, ăn dần qua từng dòng chữ. Chữ Tư Nhài cong lại, đen đi. Chữ viễn hành quăn mép. Chữ Kình với chấm mực lem cháy thành một vệt sáng rồi tắt.
Cái khoảng trắng giữa dòng cháy sau cùng. Ngọn lửa bò quanh nó một vòng, như chần chừ, rồi mới liếm vào.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 94 →