"Đồ ăn hả?" Kình dựng cái ghế đòn lên, ngồi xuống, chống cằm. "Cắn thử coi. Sừng đó, cứng lắm, mẻ răng ráng chịu."
Cộc không trả lời.
Bàn tay nó vẫn giơ trên con dấu. Không hạ xuống, không rụt về.
"Ê. Tao nói mày đó." Kình gõ một ngón tay lên mặt bàn, sát bên đuôi Cộc. "Mày đói hả? Trong nồi còn cơm. Để tao lấy."
Cộc không nhúc nhích.
"Hay mày muốn đem nó đi đổi bánh in? Đổi không được đâu. Ông Sáu không nhận đồ không chữ."
Kình chờ. Thường tới đây Cộc đã cãi ba câu, chê nó một câu, đòi ăn hai câu. Bữa nay cái miệng nhỏ của Cộc khép chặt, hai cái tai lông xù không vểnh lên, cũng không cụp xuống. Ngọn đèn kêu xèo một tiếng vì hết bấc. Bóng Cộc trên mặt bàn run theo.
"Cộc." Kình hạ giọng. "Mày biết cái này hả?"
Cộc ngẩng lên.
Nó nhìn Kình. Nhìn lâu. Cặp mắt tròn nhỏ không có cái láu cá thường ngày, không có cái nheo nheo đòi ăn. Kình không đọc ra được trong đó có cái gì. Nó chỉ thấy Cộc nhìn nó như nhìn một chữ đã quen mặt mà quên mất đọc sao.
Rồi Cộc quay đầu, nhìn qua bàn thờ. Nhìn đúng góc sát vách, chỗ tấm bài vị trắng đứng sau chén cơm.
Nó rút tay về.
Nó nhảy xuống khỏi bàn, lạch bạch đi tới chân cột, leo lên bằng một tay, chậm hơn mọi bữa. Tới xà, nó không chui vô góc tối như mọi đêm. Nó bò dọc theo xà, tới chỗ mái lá giáp vách, vạch một khe hở giữa hai tàu lá, lách ra ngoài.
Cái đuôi biến mất sau cùng.
Kình ngồi đó tới khi ngọn đèn tắt hẳn. Nó không cất con dấu. Nó để nó nằm nguyên giữa bàn, chỗ thầy Khiêm đặt.
Đêm đó, nằm trên chõng ở chái sau, mỗi lần mở mắt nó lại ngó lên xà. Xà trống.
Sáng ra, nó vô bếp nhóm lửa thì nghe tiếng ho khục khặc dưới chân.
Ông Táo ngồi chồm hổm trên cục đầu rau phía trong, hai tay chống nạnh, râu bên phải cháy xém như mọi khi. Ông ngó nó từ dưới lên.
"Thằng nhỏ."
"Dạ, chào ông Táo. Ông dậy sớm."
"Tui không ngủ. Táo không ngủ." Ông Táo đập tay lên cục đầu rau. "Tui ngồi đây canh cả đêm. Khuya lơ khuya lắc, cái thằng xó nhà mày đi ngang qua bếp tui. Đi ngang, mà không chào một tiếng."
"Nó đi đâu ông?"
"Tui đâu biết nó đi đâu. Tui là Táo, tui đâu phải lính canh rạch." Ông dậm chân, tro bay lên. "Mà nồi cơm nguội tối qua, nó không ăn vụng."
"Vậy là tốt chớ ông."
"Tốt chỗ nào!" Ông Táo đứng bật dậy. "Mười mấy năm nay nồi cơm nguội nhà này đêm nào cũng hụt một vá. Tui ghi vô báo cáo năm, hụt một vá, đều như lúa đóng thuế. Trừ cái năm nó theo thằng nhỏ ra ngoải, năm đó nồi đủ, tui ghi nhà vắng một con. Đêm qua đủ. Đủ nguyên! Tui ghi sao bây giờ?"
"Ông ghi là đủ."
"Ghi đủ thì trên hỏi sao năm nay đủ. Trên nghi." Ông chỉ tay vô mặt Kình. "Cái nhà này hết phép tắc rồi. Ma xó không ăn vụng. Bà chủ thắp nhang lung tung. Thằng nhỏ thì ngủ hai ngày rưỡi không báo trước."
"Ngủ mà báo trước sao được ông."
"Sao không được! Tui làm Táo, mỗi lần đi đâu tui đều báo!"
"Ông có đi đâu đâu. Ông ngồi đây bốn chục năm."
"Thì tui báo là tui ngồi đây!"
Kình bật cười. Ông Táo trợn mắt, râu bên trái dựng lên, râu bên phải cháy không dựng được, càng tức hơn. Ông cằn nhằn thêm một tràng, từ chuyện ma xó tới chuyện con gà mái bà Bảy lạc qua giậu ỉa trên nắp lu. Kình vừa thổi lửa vừa cãi lại từng câu cho có chuyện. Cãi tới khi nồi nước sôi, nó mới thấy mình cũng đang chờ một giọng khàn chen vô từ trên xà. Không có giọng nào chen.
Gần trưa, ngoại ra nhà ngoài. Thầy Khiêm đỡ một bên, ngoại gạt đi tới cửa buồng thì thôi gạt. Ngoại ngồi xuống ghế đòn cạnh bàn tre.
Con dấu vẫn nằm đó.
Ngoại nhìn nó. Rồi ngoại úp bàn tay lên, bàn tay gầy phủ trọn con dấu, như người ta úp tay lên đầu một đứa nhỏ đang sốt.
"Nó đi đâu rồi nó về," ngoại nói.
Bàn tay ngoại run. Run nhẹ, mà không dừng.
"Ngoại nói ai về?" Kình hỏi.
Ngoại không nhấc tay lên.
"Ngoại biết Cộc đi đâu không ngoại?"
"Ngoại biết nó hay đói."
"Con biết nó hay đói. Con hỏi nó đi đâu."
"Đói thì nó về." Ngoại nhìn ra cửa. "Nhà này có cơm."
"Hồi tối nó không ăn vụng. Ông Táo nói."
Ngoại ngó qua bếp, ngó cục đầu rau, rồi ngó lại nó.
"Ông Táo nói với con?"
"Dạ. Ổng chửi cả buổi sáng."
"Ổng chửi là ổng lo." Ngoại rút tay khỏi con dấu, đặt lên đùi. "Con cũng vậy. Hồi nhỏ con lo cái gì là con giỡn."
"Con đâu có giỡn."
"Con cười với ông Táo nãy giờ ngoại nghe."
Kình cứng họng. Thầy Khiêm đứng bên cửa buồng, quay mặt đi chỗ khác.
"Ngoại biết nhiều hơn ngoại nói," Kình nói khẽ.
"Ừ," ngoại nói. "Già thì vậy."
Chén cơm Kình xới từ khuya, trước khi ngọn đèn tắt, gắp lên trên hai miếng cá kho, để ở góc bếp, trên cái kệ thấp chỗ Cộc hay ngồi rình. Tới trưa chén cơm vẫn nguyên. Mặt cơm khô lại, cứng như vỏ bánh tráng. Một hàng kiến đen bò từ chân vách lên, nối đuôi nhau theo mép kệ, leo lên miệng chén, bu quanh hai miếng cá.
Kình đứng nhìn hàng kiến một lúc lâu. Rồi nó bưng chén cơm ra sau hè, đổ cho gà, rửa chén, úp lên kệ.
Thầy Khiêm ngồi ở hiên, sắc thuốc. Thầy không hỏi nó định làm gì.
"Ta ngồi đây," thầy nói. "Con Nghêu chiều qua."
"Dạ."
"Đi đi."
Kình ra bến rạch. Chiếc xuồng ba lá nằm úp nghiêng trong bụi lục bình từ hôm Gò Mít. Nó kéo dây, lôi mũi xuồng ra. Lá lục bình rách xoẹt xoẹt, nước tràn vô mạn.
Mũi xuồng trồi ra khỏi đám lá thì nó khựng tay.
Piên đã ngồi sẵn trên mũi, đội cái nón lá rộng vành, hai tay ôm đầu gối. Khuê ngồi giữa khoang, vạt áo xanh rêu kéo kín cổ chân, ôm trước ngực một bó nhang muỗi to bằng bắp chuối.
"Hai người ngồi đây hồi nào?"
"Từ lúc Kình rửa chén mà nè," Piên nói.
Khuê nâng bó nhang muỗi lên một chút.
"Muội đi vì muội không muốn bị chích ở nhà một mình."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 87 →