"Con viết: má nhớ con. Rồi viết: con ăn uống sao, có ai nấu cho không, cơm ghe là cơm nguội, đừng ăn hoài cơm nguội đau bụng."
Kình viết tới chữ nhớ thì dì Mười Sen đã nói tới bụng.
"Dì ơi, dì từ từ. Con mới tới chữ nhớ."
"Thì viết lẹ lên. Chữ có mấy nét đâu."
"Chữ nhớ nhiều nét lắm dì."
"Vậy viết chữ khác ít nét hơn mà cũng nghĩa nhớ."
Ông Sáu Lợi ngồi sau quầy, ngửa cổ cười.
Hiên tiệm tạp hóa sáng nay đông hơn mọi bữa. Cái thùng gỗ đựng nước mắm cũ lật úp làm bàn, giấy trải lên, nghiên mực kê bằng cục gạch. Kình ngồi chồm hổm trên đòn kê thấp, cúi người tới mức mũi gần đụng giấy. Ngồi kế bên, Khuê cầm một cây bút khô, không chấm mực, chỉ để chỉ chỗ nét nào Kình viết lệch.
"Nét này huynh kéo dài quá," cô nói nhỏ.
"Tại dì nói dài quá."
Dì Mười đứng trước hiên, nón lá cầm tay, nói tiếp như kể chuyện ngoài chợ. Thằng con dì đi ghe lúa xuống tận dưới, ba tháng chưa về. Tháng Chạp nó gửi lên một bao gạo với nửa câu nhắn miệng qua người quen, nửa câu kia người quen quên dọc đường. Dì muốn biết nửa câu kia.
"Viết: nửa câu kia là gì, con nhắn lại cho má."
"Dạ."
Viết xong, Kình đọc lại cho dì nghe. Dì móc trong giỏ ra một cái khăn gói, mở ra. Năm quả trứng vịt, vỏ xanh lợt, còn dính cọng rơm.
"Dì gửi con năm trứng."
Kình chưa kịp nói, Khuê đã đứng lên. Việc trả công, cô đã giành lo từ đầu năm.
"Thưa dì, năm quả trứng là quá phần một lá thư chợ." Khuê nói, đúng giọng mặc cả trên sách. "Dì đưa vậy là nhiều rồi."
Dì Mười ngó cô, mừng ra mặt.
"Vậy hả cô? Vậy dì đưa ba trứng."
Dì gói hai quả lại, nhét vô giỏ, đặt ba quả còn lại vô tay Khuê. Khuê đứng cầm ba quả trứng, miệng còn hé ra, chưa khép lại được.
Ông Sáu Lợi sau quầy cười tới gập người, một tay đập lên mặt quầy, một tay ôm bụng.
"Con nhỏ này mặc cả ngược! Mặc cả cho người ta trả ít đi!"
"Muội..." Khuê đỏ tai. "Muội nói theo lễ."
"Lễ của cô thì nhà tao đói!"
Dì Mười đi rồi mà ông Sáu còn cười. Khuê đặt ba quả trứng vô cái rổ dưới chân thùng gỗ, đặt rất nhẹ, như sợ trứng cũng cười cô.
"Tui đâu có tiếc," Kình nói. "Ba trứng là đủ ăn tối."
"Huynh không cần an ủi."
"Tui đâu có an ủi. Tui tính tiền."
Khuê liếc nó, mím môi, lấy cây bút khô gõ lên đầu nó một cái.
Gần trưa thì vắng khách. Kình rửa ngòi bút trong chén nước, xoay xoay mãi. Rồi nó lau tay vô ống quần.
"Khuê."
"Dạ."
"Khuê viết giùm tui một chữ."
"Chữ gì?"
"Chữ Đặng. Họ Đặng."
Khuê ngừng tay đang xếp giấy.
"Huynh viết chữ đó để làm gì?"
"Tập cho đẹp."
"Huynh tập chữ Đặng cho đẹp."
"Ừ. Chữ đó nhiều nét. Tui tập chữ nhiều nét cho tay quen."
Khuê nhìn nó lâu, cái nhìn cô hay dùng để đọc lại một dòng sổ. Kình ngó cái nghiên mực.
Cô không hỏi nữa. Cô lấy một tờ giấy nháp, chấm mực, viết. Ngòi bút đi tới nét thứ ba thì hơi run, một chấm mực nhòe ra mép nét. Cô viết tiếp, viết hết, đặt bút xuống, xoay tờ giấy về phía nó.
"Bên trái là chữ đăng. Bên phải là bộ ấp." Cô chỉ từng phần. "Nét này huynh phải đi trước."
"Bộ ấp là cái ấp hả?"
"Phải. Ấp, làng."
"Họ nhà tui có cái ấp." Kình gật gù. "Hợp miệt này."
Nó cầm tờ giấy ra trước hiên, ngồi xổm, bẻ một cành tre khô làm que. Nó vạch chữ Đặng xuống đất. Lần thứ nhất bên trái phình to như cái nồi. Lần thứ hai bộ ấp méo như cái tai heo. Nó xóa bằng lòng bàn chân, vạch lại.
Lần thứ năm, nó vạch chậm. Từng nét. Nét sổ kéo xuống thật thẳng, ngừng một nhịp ở cuối rồi mới nhấc que, như thầy Khiêm dạy hồi ở Giám.
Ông Sáu Lợi đi ra hiên, đứng chống nạnh ngó xuống.
"Viết tên ai mà như viết sớ vậy mậy?"
"Tên con."
"Tên mày là Kình. Chữ Kình có con cá. Cái này đâu có cá."
"Cái này là họ, ông."
"Họ gì?"
"Họ Đặng."
Ông Sáu không nói gì. Ông ngó xuống chữ trên đất một lúc lâu, lâu hơn người ta ngó một chữ mình đọc không ra. Rồi ông đằng hắng.
"Viết đẹp hơn tao rồi đó."
Ông quay vô, đi thẳng ra sau tiệm.
Lúc mặt trời đứng bóng, dì Mười quay lại, đi hấp tấp, cái thư cầm hai tay.
"Con ơi. Dì nghĩ rồi. Thơ này phải có dấu."
"Dấu gì dì?"
"Dấu cho chắc. Thơ không dấu người ta đưa lạc, người ta mở coi. Có dấu là người ta sợ." Dì đặt lá thư lên thùng gỗ. "Con có dấu không?"
"Con đâu có dấu, dì..."
Tay nó đã đưa lên ngực áo trước khi nó nói hết câu. Cái bọc vải nâu nằm đó. Từ đêm qua tới giờ, sợi chỉ đỏ nó chưa buộc lại.
Nó móc con dấu sừng trắng ra. Ông Sáu có một hộp son để đóng lên biên nhận, đặt sẵn đầu quầy. Kình mượn, chấm mặt dấu xuống son, ấn vô góc dưới lá thư. Ấn mạnh, giữ một nhịp, nhấc lên.
Một ô vuông đỏ. Đỏ đều, đỏ tươi, bốn cạnh thẳng. Giữa ô vuông trống trơn.
"Trời đất." Dì Mười cầm lá thư lên ngó, cười tới híp mắt. "Đẹp quá. Thơ có dấu là thơ quan!"
Khuê đứng sát sau lưng Kình. Kình không thấy mặt cô. Nó chỉ nghe cô hít vô một hơi.
"Huynh."
"Hả?"
"Con dấu đó ở đâu ra?"
"Đồ nhà."
"Đồ nhà ai?"
"Nhà tui."
Khuê bước vòng qua, đứng đối diện nó. Mặt cô không còn đỏ vì ba quả trứng. Mặt cô trắng ra.
"Dấu sừng trắng không phải dấu dân." Cô nói nhỏ, đủ cho mình Kình nghe. "Dân không ai có dấu sừng trắng. Đóng lên thư chợ là không đúng phép."
"Dì Mười muốn có dấu."
"Muội biết." Cô liếc ra con đường đất dẫn ra bến. "Đừng để thầy Đức thấy. Thầy thấy là thầy phải ghi."
"Thầy đi xã rồi."
"Chiều nay thầy về."
Khuê cầm lá thư từ tay dì Mười, gấp lại làm ba, ô dấu trống quay vô trong. Cô trao lại cho dì, hai tay, đúng lễ. Dì Mười cảm ơn rối rít, nói mai mốt có thơ nữa dì lại tới.
Dì đi rồi, Khuê không ngồi xuống. Cô gõ một ngón tay lên mặt thùng gỗ.
"Tối nay huynh đem nó cho thầy Khiêm coi."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 85 →