Thầy Đức cắm cây sào xuống bùn, nghiêng thử một cái, rút lên cắm lại cho thẳng.

"Đưa tôi tấm ván."

Kình khiêng tấm ván lau bóng từ nhà ra, thầy gác nó lên hai bó lúa chất sẵn bên mép ruộng, ngang tầm ngực. Bàn viết giữa trời, nước ngập tới đầu gối hai bên, gió thổi ngọn lúa ngả cả về một phía. Thầy xắn ống quần tới đầu gối, hai bắp chân đen sạm nắng như chân người cấy lúa. Dưới chân thầy, một đàn cá lòng tong đớp nhau lăn tăn quanh gốc bó lúa. Thầy trải tờ trình của Kình lên ván, chặn hai góc bằng hai cục bùn khô.

"Đầu tờ viết gì?"

"Dạ, Kình bẩm."

"Ai bẩm?"

"Con bẩm."

"Con là ai?"

"Sĩ tử lớp dự bị, quán Thất Sơn."

"Vậy viết đủ. Chữ nào chỉ Giám thì nâng lên đầu dòng. Chữ nào chỉ mình thì hạ xuống nhỏ." Ngón tay thầy gõ nhẹ lên một chữ. "Chỗ này cậu viết ngang hàng. Sai."

"Con tưởng ngang hàng cho công bằng."

"Công bằng là chuyện khác. Thể thức là chuyện này." Thầy chỉ xuống chữ khác. "Chỗ này cậu viết trùng tên vua đương triều. Phải thiếu một nét."

"Thiếu nét thì thành chữ khác rồi."

"Thành chữ cho phép viết."

"Vua giận không thầy, thấy con viết thiếu nét?"

"Vua không đọc tờ trình cậu."

"Vậy ai đọc?"

"Ai đọc cũng đọc từng nét."

Một tốp con nít trong ấp đã tụ lại trên bờ từ lúc nào. Chúng đứng xếp hàng, mũi sổ, đứa nào cũng cầm một cây tre nhỏ làm cần câu giả. Kình chép lại dòng đầu. Thầy Đức lắc đầu.

"Chữ trình. Viết lại."

Nó viết lại. Bộ khẩu ở trên, chữ vương ở dưới, nét ngang cuối kéo dài. Thầy lắc đầu.

"Viết lại."

Lần thứ ba, lần thứ tư. Đến lần thứ năm, mấy đứa con nít trên bờ phát ra một tiếng cười rúc rích, đứa nhỏ nhất ôm bụng ngồi bẹp xuống bờ cỏ.

"Con viết đúng rồi mà thầy."

"Đúng nét." Thầy Đức cầm tờ giấy lên, đặt xuống đúng chỗ khác ba phân. "Chưa đúng chỗ."

"Chữ nằm đâu cũng là chữ."

"Chữ nằm sai chỗ thành chữ khác." Thầy nhìn lướt qua đám con nít. Tiếng cười tắt hẳn. "Viết đi."

"Thầy ơi." Đứa nhỏ nhất trong đám đứng dậy, tay còn ôm bụng. "Thầy viết sai bao giờ không?"

"Có."

"Mấy lần?"

"Tôi không đếm."

"Sao không đếm?"

"Đếm thì khỏi viết."

Đứa nhỏ gật đầu, như đã hiểu thấu điều gì sâu xa, rồi chạy theo đám bạn.

Kình viết lần thứ sáu. Lần này thầy không lắc đầu.

Nó đặt bút xuống, thở ra. Cái thẻ gỗ lủng lẳng bên hông thầy đập nhẹ vào ván theo mỗi cái cúi người. Thẻ bài phẩm Hội, khắc chữ nhỏ, sơn mới.

"Thầy."

"Gì?"

"Thầy đỗ Hội, sao thầy không ở Giám?"

Thầy Đức vẫn chăm chú nhìn tờ giấy. "Giọng tôi nặng."

"Giọng nặng làm sao?"

"Tôi người dưới này. Nói chuyện với quan trên, họ nghe giọng trước nghe chữ sau." Ông chỉnh lại góc tờ trình bị gió thổi nhăn. "Chỗ nào cũng cần người tuần vùng. Tôi tuần vùng."

"Hồi trước con phụ sạp ở chợ Tri Tôn hoài, sao chưa thấy thầy?"

"Tôi tuần miệt khác. Về Thất Sơn được hai tháng thì gặp cậu."

"Lương thầy bao nhiêu?"

"Mười hai quan một tháng."

"Nhiều vậy?"

"Mẹ tôi ở Cần Thơ. Tôi gửi về hết."

"Hết luôn?"

"Hết luôn. Tôi ăn ở tiệm ông Sáu, Giám trả."

"Thầy ăn gì?"

"Cơm. Với mắm."

"Mắm gì?"

"Mắm sặc."

"Ngon."

"Mặn."

"Mặn mới ngon."

"Cậu nói như người chưa ăn ba bữa liền."

"Con ăn ba bữa liền hoài mà thầy."

Kình đếm trên ngón tay. Mười hai quan là một trăm hai chục tiền. Một thang thuốc ngoại hai tiền. Chia ra được sáu chục thang. Nó nhớ nồi thuốc sắc trên cà ràng, nhớ từng gói nó thấy bà gói, sáu chục thang là đủ cho bà sắc cả mùa nước nổi.

Nó phì cười.

"Cậu cười gì?"

"Mười hai quan là sáu chục thang thuốc của ngoại con. Thầy gửi mẹ thầy nhiêu đó, bả uống thuốc đủ cả năm."

"Mẹ tôi không uống thuốc. Mẹ tôi ăn cơm."

"Dạ."

"Cậu viết lần thứ bảy chữ bẩm đi. Nét phẩy cuối còn quẹt."

Kình cúi xuống viết. Nét phẩy cuối nó kéo chậm, đè nhẹ đầu bút, đếm thầm một hai ba rồi mới nhấc lên. Mực ráo gọn, không quẹt. Nó ngước mắt dò mặt thầy, tìm một cái gật. Không có, nhưng thầy cũng không bảo viết lại.

Bên kia tấm ván, thầy Đức đứng im, mắt nhìn ra ruộng nước, ngọn lúa ngả theo gió. Một con cò trắng đáp xuống mép bờ, rồi lại bay lên. Nước ruộng lăn tăn quanh chân bó lúa, để lại vệt bùn vàng như vết trà đổ trên bàn. Mấy đứa con nít đã kéo nhau đi hết, chỉ để lại mấy cái cần tre nghiêng nghiêng trên bờ cỏ, một cái còn dính nửa con giun khô.

Nó viết xong chữ bẩm, rồi hỏi không nhìn lên.

"Thầy. Ngải bên lề cấm. Thầy có bắt không?"

Thầy Đức không trả lời liền. Gió cuốn cái cục bùn trên góc giấy, ông đặt lại, ấn mạnh hơn.

"Đúng phép thì tôi làm," thầy nói. "Sai phép thì tôi ghi vào sổ. Còn chuyện giữa hai cái đó, tôi chịu không biết."

"Giữa hai cái đó là cái gì?"

"Là chỗ tôi chịu không biết."

"Nghe như thầy biết hết."

"Nghe vậy thì cậu nghe nhầm." Ông cầm tờ trình lên, thổi cho khô, cuộn tròn lại bằng hai tay. "Tờ trình đúng thể thức rồi."

"Vậy hôm trước thầy nói thiếu một việc..."

"Chuyện đó là chuyện khác."

Ông gỡ hai cục bùn khô ra khỏi ván, bỏ xuống ruộng cho chúng chìm. Rồi ông chỉ về phía xa, nơi mái lá nhà bà lấp ló sau rặng dừa, nửa vàng nửa xám.

"Tối nay tôi qua uống trà. Tôi ngồi ngoài hiên."

Hết Chương 7
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 8 →
← TrướcTiếp →