Bốn mái chèo nhấc lên cùng lúc, nước nhỏ giọt từ đầu chèo xuống mặt rạch thành bốn hàng chấm. Chiếc ghe tam bản trôi nốt quãng cuối, cập vô bến ấp Vàm Tre êm như đặt một cái chén xuống bàn.

Trưa mồng ba. Cả xóm đang ăn Tết, ai đi ngang bến cũng dừng lại ngó. Ghe thuê ở bến lớn, mắt ghe vẽ tròn ở mũi đã tróc sơn, mui phủ đệm lác. Bốn người chèo mặc áo nâu, ngồi yên chờ.

Người bước lên bờ trước tiên mặc áo the màu tro, không thêu, không khăn vấn cao, chân mang giày vải. Ông ngoài năm mươi, dáng gầy, râu tỉa gọn. Sau lưng ông chỉ có một người hầu xách hai gói quà buộc dây đỏ.

Kình đứng trên bến cùng thầy Đức với Khuê. Nó nhìn người đàn ông đó và thấy ông giống một ông đồ dạy trẻ ở chợ huyện hơn là một ông quan. Chỉ có cách ông bước, mỗi bước dài đúng bằng bước trước, là không giống ai trong ấp.

Ông chào thầy Đức trước.

"Thầy Lâm. Đường sông có tốt không?"

"Thưa Học chính, tốt."

Thầy Đức cúi xuống. Kình đã thấy thầy cúi chào bà Ba, chào ông Cả, chào cả ông Gò. Chưa lần nào thầy cúi sâu tới vậy, lưng gập gần ngang, hai tay áp vô đùi.

Rồi ông quay sang Khuê. Khuê đứng cách hai bước, thẳng như cây sào.

"Vẫn khỏe chứ."

"Vẫn khỏe chứ."

Hai câu y như nhau từng chữ, cùng một giọng, cùng một độ dài. Không ai bước lên thêm bước nào. Kình đứng kế bên mà thấy lạnh sống lưng, lạnh như lúc nhúng chân xuống rạch sáng sớm.

Ông Đạt Chi quay sang nó.

"Cháu là Kình."

"Dạ."

Ông nhìn nó một lúc, từ mái tóc cắt tay xuống cái áo vá, rồi gật một cái.

"Cháu cao hơn ta tưởng."

"Dạ, tại Tết con ăn nhiều."

"Ta chỉ mới hình dung cháu qua giấy tờ." Ông nói. "Giấy tờ không ghi chiều cao."

Ngoại nhất định ngồi dậy tiếp khách. Piên can không được, đành ngồi sau lưng ngoại trên bộ ván ngoài nhà trên, làm cái tựa. Ngoại búi lại tóc, nhai một miếng trầu cho môi có màu, rồi nhìn thẳng ra cửa.

Ông Đạt Chi bước vô, cúi chào trước bàn thờ, rồi cúi chào ngoại.

"Tôi là cha của Vũ Khuê. Xin phép bà."

"Ông tới bắt cháu tui thì nói luôn," ngoại nói. "Đừng uống trà nhà tui."

Khuê đứng ở góc nhà, mặt tái đi. Ông Đạt Chi không đổi sắc mặt.

"Tôi tới uống trà, thưa bà. Bắt thì tôi đã không mặc áo này."

"Áo nào cũng là người Giám."

"Vậy bà cứ coi như người Giám tới uống trà."

"Người Giám uống trà xong thì sao?"

"Thì về."

"Về một mình?"

"Về một mình, thưa bà, nếu bà không cho ai theo."

Ngoại nhìn ông lâu, mắt nheo lại như nhìn một củ thuốc lạ coi có sâu không. Rồi ngoại cười một tiếng khô, ngắn.

"Kình. Rót trà cho ông."

Kình bưng cái ấm đất ra. Cái ấm nó chà bằng tro từ sáng sớm, giờ đen bóng, soi được cả mặt. Nó rót vô cái chén sành duy nhất không mẻ. Nước trà vàng sẫm, thơm mùi khói.

Ông Đạt Chi đỡ chén bằng hai tay. Ông không uống liền. Ông đặt chén xuống khay, mấy ngón tay giữ quanh vành chén, xoay một vòng, rồi vòng nữa, rồi vòng thứ ba, chậm và đều. Xong ba vòng ông mới nâng chén lên uống.

"Trà ngon," ông nói.

"Trà ông Sáu tạp hóa cho," ngoại nói. "Ông khen thì khen ổng."

"Ấm cũng tốt."

"Ấm sứt quai."

"Sứt quai mà sạch." Ông nhìn cái ấm. "Có người chà kỹ."

Ngoại liếc Kình. Kình cúi xuống rót thêm cho ông, đổ hơi tràn ra khay.

Người hầu đặt hai gói quà lên bàn. Ông Đạt Chi mở gói thứ nhất: một gói sâm khô gói giấy đỏ. "Cho bà." Gói thứ hai là một xấp giấy dó trắng, dày cỡ hai đốt ngón tay, mép cắt thẳng. Ông đẩy xấp giấy về phía Kình.

"Cho cháu viết thư."

"Dạ, con cảm ơn ông."

"Nghe nói cháu viết thư hộ cả ấp."

"Dạ, viết lặt vặt."

"Lặt vặt cũng là chữ." Ông nói. "Chữ thì không có cái nào lặt vặt."

Từ phía chái sau có tiếng gầm gừ, nhỏ, đều, như mèo hoang rình chuột. Ông Đạt Chi không quay đầu, chỉ có mắt liếc qua phía đó một cái rồi trở về chén trà. Kình đứng dậy, đi ra chái, giả bộ lấy thêm nước. Nó đá nhẹ một cái vô vách.

"Im," nó nói qua kẽ phên.

Tiếng gầm gừ nín được một lúc, rồi lại rỉ ra, nhỏ hơn. Qua khe vách, Kình thấy một đôi mắt nhỏ sáng lên trong bóng tối, không nhìn nó, nhìn thẳng ra nhà trên, nơi người khách mặc áo tro đang ngồi.

Nó quay vô. Ngoại đang hỏi chuyện đường sá.

"Ông đi ghe từ đâu xuống?"

"Từ ngoài cửa sông, thưa bà. Đổi ghe ba lần."

"Đổi ghe ba lần mà mặc áo thường. Ông chịu cực."

"Áo quan đi ghe dễ ướt."

"Áo thường ướt thì sao?"

"Áo thường ướt thì phơi. Áo quan ướt thì người ta hỏi."

Ngoại gật gù, nhai trầu. "Lúa miệt ông năm nay được không?"

"Tôi không coi lúa. Tôi coi sổ."

"Coi sổ thì biết lúa được không?"

"Biết được nhà nào khai thiếu."

"Khai thiếu là đói, ông."

Ông Đạt Chi im một nhịp. "Bà nói phải."

Không ai nhắc câu nào về Giám hay về chuyện cũ. Hai người nói như hai ông bà già gặp nhau ngoài chợ, mà Kình nghe ra câu nào cũng có cạnh.

Ông uống hết chén thứ hai. Lần này ông không rót thêm. Ông đặt cái chén úp xuống khay, miệng chén chạm gỗ kêu một tiếng nhỏ.

Rồi ông nói với Khuê, giọng bình thường như sai đi lấy cái quạt:

"Con dẫn bà vô nghỉ. Ta muốn ngồi với cháu Kình một lát."

Khuê đứng lên ngay. Cô đỡ ngoại một bên, Piên đỡ một bên. Lúc đi ngang qua Kình, cô không nhìn nó.

Hết Chương 67
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 68 →
← TrướcTiếp →