Trên miệng bếp, đĩa mứt gừng nằm cạnh một chén chè đậu trắng còn ấm, bên cái lon sành đựng tro có ba cây nhang ngoại vừa thắp.
Ngoại châm tờ sớ của chị Chín vô ngọn đèn, đợi nó cháy hết rồi mới phủi tay. Chiều hai mươi ba, theo lệ, ông Táo về trời. Ngoại đứng thêm một lúc trước bếp, rồi nói với Kình mà không quay lại.
"Ngoại vô nằm chút. Con canh nhang, tàn thì thắp cây khác. Đừng để tắt."
"Dạ."
"Đừng ăn mứt."
"Con có ăn đâu."
"Ngoại nói cái đứa ở chái sau."
Ngoại vô buồng. Khuê với Piên đi chợ chưa về. Kình ngồi xổm cạnh bếp, cằm tì đầu gối, ngó ba sợi khói.
Khói bốc lên chừng một gang thì quặt ngược xuống, như đụng phải cái nắp vô hình. Nó trườn xuống mặt bếp, chui vô kẽ sau ba cục đầu rau. Từ kẽ đó có tiếng ho khục khặc, rồi một ông già nhỏ thó bò ra, cao chưa tới đầu gối Kình, áo màu tro bếp, râu bên trái dài bạc, râu bên phải cháy xém cụt lủn. Ông đứng dậy phủi tro trên vai, phủi lâu như phủi bụi sổ.
"Năm nay tui không đi được," ông nói, giọng như than với cấp trên. "Thằng nhỏ thắp chi cho tốn nhang."
Kình mở miệng, rồi ngậm lại. Rồi mở lại. "Sao ông không đi được?"
"Trên đổi lệ. Báo cáo năm phải đủ ba bản. Phải có dấu người sống trong nhà xác nhận. Hàng chờ ở cửa dài ba ngày, đứng không có ghế." Ông giơ ba ngón tay đen nhẻm. "Ông Táo bên Dừa Sẹo năm nay nộp giấy có cái dấu đẹp quá, bị trả về ba lần. Đẹp quá thì trên nghi. Từ hồi miệt này có mấy tờ sắc đẹp quá, trên soi giấy miệt này gấp đôi."
"Đẹp quá cũng bị trả hả ông?"
"Xấu thì trả vì xấu. Đẹp thì trả vì đẹp. Vừa vừa thì trả vì chưa đủ ba bản."
Cái phên chái sau động đậy. Cộc chui ra, đi tới, dừng cách bếp hai bước, khoanh cái tay còn lại trước bụng.
"Ông già này năm nào cũng than."
"Con kia năm nào cũng ở đây."
"Ông ăn cơm nhà này cả năm, rồi lên trển nói xấu."
"Tui không nói xấu. Tui báo cáo."
"Báo cáo là nói xấu có giấy."
"Báo cáo là báo cáo. Ai ăn vụng thì tui ghi ăn vụng. Mày ăn vụng thì tui ghi mày."
"Ghi tao là gì?"
"Năm nào tui cũng phải ghi một dòng: ở chái sau có một con không rõ là gì." Ông Táo dậm chân, tro bay lên. "Năm nào trên cũng trả về hỏi lại con gì. Tui ghi không rõ, trên hỏi sao không rõ. Tại mày mà năm nào tui cũng trễ."
"Vậy ông ghi tao là con mèo."
"Mày có phải con mèo đâu."
"Ông ghi đại."
"Tui ghi đúng. Tui làm Táo nhà này bốn chục năm chưa ghi đại một chữ."
Cộc há miệng định chửi tiếp, rồi tự nhiên im. Nó quay đi, lấy cái tay còn lại gãi lưng, gãi chỗ không ngứa.
Kình ngó hai ông già, rồi ngó cây nhang đã tàn một nửa. "Hay con viết báo cáo hộ ông?"
Ông Táo nheo mắt nhìn nó từ dưới lên, ngó lâu như ngó một tờ đơn khả nghi. "Thằng nhỏ biết chữ hồi nào?"
"Hồi năm ngoái."
"Hèn chi nét còn non." Ông chắp tay sau lưng. "Lấy giấy. Ba bản. Tui đọc, mày chép. Đừng thêm chữ nào."
Kình lấy giấy, kê lên đầu gối. Ông Táo đọc bằng giọng đều đều của người đọc sổ thuế, không lên không xuống. Tháng Giêng, bà gửi lừa thư một gói mứt gừng ra Giám, nghe đâu rớt dọc đường. Tháng Ba, con gà mái mơ mất tích, nghi chồn. Tháng Tư, có người lạ bận áo chàm đứng ngoài giậu ba bữa. Tháng Chạp, chị Chín Lụa xóm trong nhờ cúng, chồng chị hơi vui.
"Ông đọc sớ của chỉ rồi hả?"
"Đốt trước mặt tui thì tui đọc. Chép tiếp." Ông hắng giọng. "Từ tháng Chín, bà ho ra máu ba lần, giấu. Đêm bốc thuốc lén cho người nghèo, mười một lần."
Ngòi bút dừng giữa chữ giấu. Một giọt mực rớt xuống, loang thành chấm tròn.
"Ông đọc lại chỗ đó."
"Tui đọc một lần. Chép đi."
"Ba lần là ba lần nào?"
"Một lần hồi tháng Chín. Một lần đêm nước lên. Một lần cái bữa mày về." Ông Táo nói như đọc ngày tháng nộp thuế. "Bữa đó bà súc miệng bằng nước trầu rồi mới ra ngồi bậc cửa chờ."
Kình ngồi im. Bàn tay cầm bút của nó không run, chỉ đứng yên.
"Ông bỏ chữ giấu được không?"
"Không. Tui ghi đúng."
"Chữ lén nữa?"
"Lén là lén. Bà bốc thuốc không có giấy phép, tui ghi lén."
"Vậy con xin thêm một chữ."
"Chữ gì?"
"Phía sau. Ghi là mười một lần, để cứu người."
Ông Táo im. Ông đi một vòng quanh cục đầu rau, hai tay vẫn chắp sau lưng, đi chậm như người tính sổ.
"Có cứu không?"
"Có. Thằng Bé Tư sốt, cha nó trả trứng. Ông thấy mà."
"Tui thấy." Ông dừng lại. "Đúng thì được. Ghi."
Kình ghi. Ghi xong bản thứ nhất, nó chép thêm hai bản, tới bản thứ ba thì cổ tay mỏi nhừ. Ông Táo đọc lại từng bản, gật từng dòng.
"Dấu đâu?"
Kình rút thẻ bài đỗ Hương ở lưng ra chìa. Ông Táo chê ngay.
"Thẻ bài là cái mặt, không phải con dấu. Dấu người sống trong nhà kìa."
"Nhà con đâu có dấu."
"Vậy thì điểm chỉ."
Kình quệt ngón cái vô nghiên mực, ấn xuống góc từng bản. Ba dấu vân tay đen, xoáy tròn. Ông Táo nhìn kỹ từng cái, lẩm bẩm "người sống điểm chỉ thì trên còn nhận", rồi cuộn ba tờ giấy lại, kẹp nách. Ông bước lên sợi khói nhang như bước lên bậc thang, đi một mạch qua mái bếp, khuất.
Khói lại bốc thẳng.
Cộc chờ đúng một hơi thở. Rồi nó nhón tay bốc miếng mứt gừng trên miệng bếp, bỏ tọt vô miệng.
Trong buồng, giọng ngoại vọng ra: "Đồ của ông Táo!"
Rồi ngoại ho. Một tràng dài, khàn, đứt quãng, lần này không có tiếng nhai trầu nào che lại.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 63 →