Con gà mái nằm ục ịch trên bậc cửa, hai chân buộc chéo bằng sợi lạt, cái mỏ chốc chốc lại mổ vô khoảng không như đang cãi với ai. Tiền công của bà Bảy đầu xóm. Bà nhờ viết ba chữ lên tấm ván treo đầu nôi đứa cháu nội, trả nguyên một con gà, dặn đừng làm thịt trước Tết.
Sau lưng con gà là một hàng người. Người cầm giấy cuộn, người cầm giấy gấp, có ông cầm nguyên tấm mo cau vì nhà hết giấy. Hàng kéo từ bậc cửa ra tới gốc khế, ai cũng ngồi chồm hổm, phe phẩy nón, bàn giá nếp năm nay.
Kình ngồi sau cái bàn tre kê ngoài hiên, cây bút lông kẹp giữa hai ngón. Khuê ngồi ghế đẩu bên cạnh, lưng thẳng, cuốn sổ đặt trên đùi. Sáng nay cô tuyên bố cô "kiểm nét", vì huynh viết sai một nét thì người ta cầm tờ giấy sai đi cả năm.
Ông Hai Mập ngồi xuống chiếc ghế trước bàn, ghế kêu răng rắc. Ông chùi tay vô ống quần hai lần rồi mới đặt lên bàn một tờ giấy bản gấp tư.
"Viết cho thằng Út. Nó đi làm mướn bên kia sông Hậu, Tết này chưa chắc về."
"Ông muốn viết sao?"
"Viết sao cho nó biết tao nhớ mà nó đừng biết tao nhớ."
Kình cầm bút, khựng lại giữa chừng. "Vậy là sao ông Hai?"
"Thì vậy đó. Biết mà đừng biết."
Khuê đã cúi xuống sổ. Cô viết một mạch, rồi xoay sổ qua cho Kình. "Huynh chép câu này. Phụ tử tình thâm, cách trở giang hà, cha ngày đêm trông con sớm về đoàn tụ."
Kình đọc to cho ông Hai nghe, đọc chậm, đúng từng chữ. Ông Hai nghe xong, gãi đầu, mắt chớp chớp.
"Vậy là tao chửi nó hay sao?"
"Dạ đâu có," Kình nói. "Câu đó là ông thương con."
"Thương mà nghe như đọc bài vị. Nó nghe cái này nó tưởng tao chết rồi, nó bỏ chủ chạy về."
"Thưa bác, thư nhà phải có thể thức," Khuê nói. "Mở thư có câu hỏi thăm, giữa thư có câu dặn dò, cuối thư..."
"Cô ơi, thằng Út nó đâu có biết chữ. Nó nhờ người ta đọc. Người ta đứng giữa nhà đọc cái này, cả xóm trên đó cười nó tới rằm."
"Vậy ông muốn nó nghe cái gì?" Kình hỏi.
Ông Hai ngó con gà trên bậc cửa một hồi lâu, như con gà biết câu trả lời.
"Nói nhà còn lúa. Nói con heo nái đẻ chín con, chết một. Nói..." Ông dừng.
"Nói ông nhớ nó?"
"Đừng nói cái đó. Tao dặn rồi."
Kình chấm mực, nghĩ một lúc, rồi viết. Viết xong nó đọc lên.
"Nhà còn lúa. Heo đẻ chín, nuôi được tám. Tết về, ba có mua bánh phồng."
Ông Hai ngồi im. Rồi ông gật một cái thật chậm.
"Đọc lại."
Kình đọc lại.
"Đọc lại coi."
Kình đọc lần thứ ba. Ông Hai nhắm mắt nghe, môi mấp máy theo chữ bánh phồng.
"Thằng Út mê bánh phồng từ hồi ba tuổi," ông nói. "Nghe câu này là nó biết."
"Câu này không có chữ nhớ," Khuê nói nhỏ.
"Có," Kình nói. "Ông Hai mua bánh phồng trước khi biết nó về hay không."
Khuê nhìn tờ giấy một lúc lâu. Rồi cô cúi xuống sổ, ghi một dòng, không cho ai coi.
Ông Hai đứng dậy, gấp tờ giấy cất vô lưng quần, móc ra hai đồng đặt lên bàn. Đi được mấy bước ông còn quay lại nói với cả hàng người, giọng như khoe con mình: "Thằng Kình hồi trước chăn vịt, giờ viết thư cho cả ấp. Bà Tư có phước."
Người kế tiếp là chị Chín Lụa ở xóm trong. Chị ngồi xuống, ngó trước ngó sau, hạ giọng.
"Viết cho tui tờ sớ gửi ông Táo."
"Dạ, sớ gì chị?"
"Xin ông đừng kể chuyện chồng tui uống rượu."
Có tiếng khục khục trong cái quang gánh để dưới chân bàn. Kình lấy chân đẩy cái quang gánh sâu vô gầm.
"Sớ thì ai viết cũng được," Khuê nói, giọng nghiêm như giảng bài. "Nhưng phải đúng câu. Con là ai, nay có việc gì, kính xin vị thần nào soi xét, giúp cho điều gì. Thiếu một vế là sớ không tới."
"Không tới thì ông Táo lên trển kể hết hả cô?"
"Dạ, thưa chị, có thể."
Chị Chín tái mặt. Kình viết đúng mẫu từng chữ, chỉ tới chỗ uống rượu thì ngòi bút đi chậm lại, và chữ hiện ra trên giấy thành hơi vui.
"Hơi vui là sao?" chị Chín hỏi.
"Là có uống, mà viết cho ông Táo nghe đỡ."
Chị Chín ngẫm nghĩ, rồi gật mạnh. "Được. Ổng hơi vui thiệt."
Trong quang gánh, tiếng khục khục nổi lên một tràng dài. Chị Chín ngó xuống gầm bàn, Kình ho lên một tiếng che đi.
Chị không đem tờ sớ về. Chị nói ở nhà chồng chị hay xé giấy vấn thuốc, cái gì có chữ ổng cũng xé trước. Chị xin gửi tờ sớ ở bếp nhà bà Tư cho tới hai mươi ba, đốt chung với nhang bà. Kình gấp tờ sớ làm ba, đem vô bếp, nhét vô kẽ giữa cục đầu rau với vách đất.
Lúc quay ra, nó thấy ngoại.
Ngoại ngồi ở bậc bếp, lưng tựa cột, miệng nhai trầu liên tục, nhai nhanh hơn thường, như có cái gì trong cổ phải đè xuống. Lúc Kình đi ngang, ngoại chống tay vô cột đứng dậy. Tay ngoại chống hai lần mới đứng được.
"Ngoại mỏi hả?"
"Mỏi gì. Ngồi lâu tê chân." Ngoại phủi vạt áo. "Ra viết tiếp đi. Người ta chờ."
Kình ra viết tiếp. Viết thêm bốn lá thư, một tờ giao kèo mượn trâu, một tấm ván đầu nôi. Giữa hai lượt khách, nó nghĩ tới mẩu giấy gửi thầy Khiêm bỏ theo đò thư hồi phiên chợ tháng trước. Tới giờ chưa thấy một chữ hồi âm.
Chiều, chú Tám đưa thư ghé lấy thư ông Hai.
"Chú Tám, có thư nào ngoài Giám gửi con không?"
"Không có. Hỏi hoài." Chú Tám nhét thư ông Hai vô túi. "Đường ra ngoải xa lắm con."
"Dạ. Chú đừng nói ngoại con nghen."
"Thư ai nấy giữ. Chú có nói ai bao giờ."
Tối đó dọn bàn xong, Kình vô bếp lấy nước rửa tay. Bếp đã nguội, lớp tro phủ mịn như bột. Ngọn đèn dầu trên tay nó soi xuống, và nó đứng sững.
Trên mặt tro có một vệt dấu chân, mỗi dấu nhỏ bằng đốt ngón tay. Dấu đi vòng quanh ba cục đầu rau, vòng một lượt, rồi dừng lại đúng chỗ kẽ vách, nơi tờ sớ của chị Chín đang nằm.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 62 →