Xuồng trườn tới trên cánh lúa mùa cao quá đầu khi Kình đẩy sào xuống lớp nước xăm xắp gốc rạ, bông nặng cúi xuống quẹt vô hai mạn nghe lách tách như mưa hạt.

Sáng sớm, sương chưa kịp nhấc khỏi ngọn lúa, mùi thơm của cơm mới đã tỏa lên từ cả cánh đồng, ngọt ngầy, hơi nồng. Cộc ngồi trên bó lúa đầu tiên Kình gặt ở mép ruộng, ngáp một cái dài, rồi rúc đầu vô đống rơm.

"Mày còn ngủ nữa hả?"

"Lúa nó ru."

"Ru cái gì."

"Ru tao."

Kình để mặc. Nó chống xuồng tới gốc mít cụt ngọn, buộc dây vô rễ, bước lên bãi đất lún phún cỏ non. Nó ôm bó lúa mới, vàng chói, nặng tay, hạt còn ẩm sương, và đặt xuống rễ mít. Nó rụt tay lại, hai bàn tay úp trên đùi.

Ông già đã ngồi đó, lưng dựa thân cây, tay đặt trên gối. Sương trên vai ông chưa tan.

"Lúa mới," Kình nói. "Gặt sáng nay ngoài ruộng. Con đặt đây."

"Tôi thấy."

"Ông ngửi coi."

Ông Gò cúi xuống một chút, ngửi. Cái ngửi lâu, hơi nghiêng đầu, mắt nhắm, như người ta nghe một đoạn nhạc quen. Ông ngồi thẳng lên, mặt dịu.

"Lúa Gò Mít năm nay trổ tốt."

"Dạ, tốt. Thầy con nói gặt kịp thì được hai giạ rưỡi một sào."

"Sào đất nào?"

"Đất ruộng của dân. Hồi ấp còn, ông nhớ ai cày chỗ này không?"

"Nhớ. Nhà ông Tám Khế có hai trâu, hồi ông ấy còn trẻ." Ông nhìn bó lúa không đụng tới. "Tôi ngửi vậy cũng đủ."

Kình gật. Nó không hỏi gì thêm, không xin gì, không làm gì. Nó ngồi một lúc bên rễ mít, hai chân co lên, nghe ông kể một chuyện vặt về con trâu của ông Tám sợ tiếng sấm. Bên hốc cây, cuộn giấy vàng điểm bạc vẫn nằm nguyên trong chỗ lõm, mép son đỏ không phai. Nó liếc một cái, rồi nhìn đi.

Nắng lên tới ngọn cây thì ông Gò nhạt dần. Kình đứng dậy, vỗ đất khỏi quần, bước xuống xuồng. Nó không ngoái lại.

Giữa buổi, cả ấp đã ra ruộng. Người này gặt, người kia bó, trẻ con lẽo đẽo theo sau nhặt bông rơi. Thầy Đức xắn quần ống thấp ống cao, lưỡi hái trong tay phải, lúa ôm tay trái, và ông gặt nhanh nhất ruộng, lưỡi hái đi ngang như viết một nét, mỗi cái vung ngã trọn một vạt lúa.

"Thầy gặt giỏi ghê," Kình nói, ngồi xổm bên bờ, bút trong tay, tờ giấy kê đầu gối.

"Tôi gặt từ hồi bảy tuổi." Thầy không dừng tay. "Trước khi biết chữ."

"Dạ, con tưởng thầy sinh ra là đã biết chữ."

"Sinh ra tôi chỉ biết khóc. Chữ là cái học sau."

"Vậy hái trước chữ?"

"Hái trước. Chữ nhẹ hơn lúa." Ông ném một ôm lúa lên bờ, thẳng cái lưng, lau mồ hôi bằng mu tay. "Cậu chép. Tờ khai thu hoạch."

Ông đọc từng chữ, Kình chép theo. Chủ ruộng. Diện tích. Ngày gặt. Tới chỗ Số giạ, thầy Đức dừng.

"Chỗ này ghi bao nhiêu?"

"Chủ ruộng nói mười giạ."

"Cậu ghi mười?"

"Dạ, ổng nói vậy."

"Cậu có đếm chưa?"

"Dạ chưa."

"Vậy ra đống bao kia đếm."

"Thầy, ổng nói thì ổng biết rồi."

"Ổng biết ổng nói. Tờ giấy cần biết cái thật." Thầy Đức chỉ vô đống bao lúa chất cạnh bờ. "Đúng phép là đếm. Ghi theo lời là sai phép."

"Nhưng ổng đâu có nói dối."

"Không ai nói ổng nói dối. Đếm thì đếm."

Kình thở dài, xắn tay áo, đi tới đống bao. Nó đếm. Một, hai, ba, tới tám rưỡi, vì bao cuối chưa đầy. Nó về bờ, ghi tám giạ rưỡi.

"Chủ ruộng nói mười," nó nói.

"Mười giạ ổng nói là mười giạ ổng mong. Tám giạ rưỡi cậu đếm là tám giạ rưỡi trong bao." Thầy Đức cúi coi, gật. "Đúng. Ghi vậy."

"Ổng có giận không thầy?"

"Giận thì giận. Ổng giận ba hôm, tờ giấy đúng ba chục năm."

Ông cầm lưỡi hái lên, quay lại ruộng. Kình nhìn theo, rồi nhìn xuống chữ vừa chép, thấy chữ đứng thẳng, nét sổ chắc.

Phía trái, Khuê gặt chậm, mỗi lần chặt một nhúm lúa nhỏ xíu, cái áo xanh rêu buộc vòng quanh hông, mồ hôi ròng trên má. Phía phải, Piên bó lúa nhanh như bện tóc, mỗi bó một cái lạt, miệng hát nhỏ không lời. Cộc ngủ khoèo trên đống rơm mới, bụng phập phồng, một bông lúa kẹp vô lông tai.

"Khuê gặt được mấy bó?" Kình hỏi, đi ngang.

"Muội gặt được một ôm. Muội đếm rồi, một trăm hai mươi bông."

"Sao đếm bông?"

"Vì thầy Đức nói đếm."

"Thầy nói đếm giạ."

"Giạ là tổng của bông." Khuê lau trán, để lại một vệt bùn. "Muội đếm từ gốc."

Piên cười khúc khích, ném cho Khuê một sợi lạt. "Bó đi Khuê. Một trăm hai mươi bông cũng phải bó."

"Thầy," Kình hỏi, khi hai người nghỉ dưới bóng cây gáo ở đầu ruộng, "có thư Giám trả lời chưa?"

"Chưa."

"Chưa là sao?"

"Chưa có tin là còn ở được." Thầy Đức uống nước từ ống tre, lau miệng. "Tin tới là hết ở."

"Nếu tin tới mà nói được ở?"

"Thì ở tiếp."

"Nếu nói không?"

"Thì tôi viết tờ khai cho cậu đi đường."

Kình cười, và thầy Đức khóe miệng nhích một cái rất nhỏ.

Tối, nhà bà Tư Nhài thơm mùi cơm nếp mới nấu. Bà ngồi bên bếp, khuấy nồi, ho một tiếng nhỏ rồi nuốt xuống. Kình bước vô thì bà đặt vá, thò tay vô túi áo, lấy ra một xâu tiền, nặng trĩu.

Bà đếm một lần, mắt cúi, môi mấp máy. Đếm lần nữa, chậm hơn, từng đồng chạm vô lòng bàn tay bà kêu lanh canh.

"Phiên chợ tới," bà nói, dúi xâu tiền vô tay nó, "con đi mua nếp, đậu xanh, lá chuối, giấy đỏ. Năm nay ngoại muốn gói bánh tét nhiều."

Kình cầm xâu tiền. Nó nhìn nó, rồi nhìn bà.

Xâu tiền nặng hơn mọi năm.

Hết Chương 60
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 61 →
← TrướcTiếp →