"Kình! Nồi!"
Tiếng bà gọi từ bếp làm ngòi bút giật khỏi tờ giấy. Kình đang ngồi chồm hổm cạnh cà ràng, tờ trình trải trên đầu gối, mới viết được ba dòng. Dòng đầu là chữ Kình bẩm, đã sửa hai lần.
Nó bỏ bút, chạy vô.
Nồi canh cá đang sôi sùng sục, bà đứng cạnh, hai tay nắm hai quai nồi bằng giẻ ướt. Bà nhấc lên được một gang thì cái quai bên trái rung lên, rung nhè nhẹ, nhưng nước canh sóng sánh ra tận miệng nồi.
Kình chộp luôn hai quai. Hai bàn tay nó nằm sát hai bàn tay bà. Tay bà nóng và run, không phải run vì nặng.
"Để con."
"Ngoại bưng được."
"Ngoại bưng được tới đâu, canh đổ tới đó." Nó đặt nồi xuống cái nền gạch. "Ngoại bệnh gì vậy?"
"Bệnh già."
"Già gì mà run?"
"Già thì run."
"Hồi con đi, ngoại đâu có run."
"Hồi con đi, ngoại đâu có già thêm một năm." Bà lấy giẻ lau tay, mắt không ngó nó. "Chuẩn bị chén đi, cơm chín rồi."
Bữa cơm hôm đó Kình ngồi đối diện bà, ăn mà mắt dán vô đôi tay bà. Bà gắp cá, gắp rau, đũa vững như đòn cân.
"Ngó gì ngoại hoài?"
"Ngoại gắp đẹp."
"Gắp đẹp là gắp trúng miệng. Ăn đi."
"Hồi nãy tay ngoại..."
"Hồi nãy là hồi nãy." Bà đặt đũa xuống. "Ăn."
Xong bữa nó xách tờ trình dang dở, cắm đầu đi một mạch qua tiệm ông Sáu.
Tiệm vắng khách. Ông Sáu ngồi sau quầy, gõ bàn tính cho vui, thấy nó thì gập cuốn sổ bìa đen lại. Kình chống hai tay lên quầy.
"Ông Sáu."
"Gì?"
"Mấy lá thư ngoại nhờ ông viết gửi Giám. Ông viết gì trong đó?"
"Viết theo lời bả."
"Lời ngoại là gì?"
"Ngoại khỏe. Ăn uống đủ. Mưa nắng thất thường. Có lá thì trở trời. Mấy chữ vậy."
"Trở trời," Kình lặp lại. "Lá nào cũng trở trời hả ông?"
Ông Sáu gãi đầu. Một sợi tóc bạc rơi xuống mặt quầy. "Bả biểu tao viết cho nhẹ. Mệt thì ghi trở trời. Ho thì ghi cảm gió. Nặng hơn nữa thì khỏi ghi chữ nào."
"Nặng hơn là sao?"
"Bả nói vậy thì tao viết vậy."
"Ông thấy ngoại khỏe không?"
"Tao thấy bả nhai trầu."
"Ông thấy ngoại run không?"
Bàn tính trong tay ông Sáu ngừng lại giữa chừng. Hạt tính còn nằm lệch.
"Tao thấy," ông nói, giọng hạ xuống. "Bả biểu đừng nói. Bả biểu mày ở trển lo học, thêm chuyện nhà thì mày rớt."
"Con đỗ rồi."
"Hồi đó chưa đỗ." Ông Sáu đẩy cuốn sổ qua một bên, nhìn thẳng nó lần đầu từ nãy giờ. "Tao viết mười hai lá thư cho bả. Mười hai lá đều chữ nhẹ. Tao có thêm bớt chữ nào đâu. Mày đừng ngó tao như tao nói dối."
"Con đâu có ngó."
"Mày đang ngó."
Kình rút tay khỏi quầy. Nó biết mười hai lá thư đó đã chạy qua lưng lừa, qua tay người đưa thư, rồi nằm trên bàn nó ở Giám, mà lá nào nó đọc cũng nhẹ tênh: trở trời, hơi mệt, cảm gió. Bà gởi cho nó đủ thứ, kể cả mấy chữ nhẹ đó.
"Con cảm ơn ông."
"Cảm ơn cái gì. Mày mua dầu không?"
Nó mua một chai dầu đèn nhỏ, trả bằng ba quả trứng vịt.
Về tới nhà, Kình tìm Cộc ở chái sau, thấy nó đang gặm lông bụng trên chõng, cố ý không ngó lên.
"Giải thích đi."
"Giải thích cái gì."
"Vụ mày đi sát vách. Mày tránh gian thờ như tránh chó dữ."
"Chó dữ gì, nhà mày có con chó nào đâu."
"Đừng đánh trống lảng."
"Tao đói." Cộc ngẩng đầu, đôi mắt tròn xoe, chân thành tới mức muốn tát. "Mày biết hôm trước tao thấy gì không? Con cá linh, lớn bằng bắp tay, lội ngay mé cầu."
"Cá linh nào lớn bằng bắp tay?"
"Con đó. Tao tận mắt."
"Tay ai?"
"Tay mày."
"Tay tao bự hơn cái tay mày nhiều."
"Thì lớn bằng bắp tay tao." Cộc giơ bàn tay duy nhất lên. "Cũng lớn."
Kình ngó nó một lúc. Cộc ngó lại, đuôi quét qua quét lại trên chõng, vô tội như con mèo vừa làm bể cái chén.
Kình chịu thua. Nó móc trong túi lấy ra cái đầu cá nướng gói lá, đưa qua.
"Ăn đi. Hôm nào cũng tới lượt mày nói."
"Hôm nào cũng vậy." Cộc ôm cái đầu cá bằng một tay, cười toe, răng nhỏ xíu. "Cảm ơn nhóc."
"Đầu cá bịt miệng mày được hoài vậy hả?"
"Bữa nay bịt được."
"Mai?"
"Mai mày nướng thêm cái đầu khác."
Tối đó nó trải lại tờ trình, thắp cái đèn mới mua. Nó viết chép thư hộ cả ấp, ai trả bằng cái gì. Nó viết lau bàn thờ, nhưng không viết tấm bài vị trắng. Nó viết giăng võng ở chái sau, chữ giăng viết lộn bộ, sửa lại. Nó viết thằng Tửng và năm tiền lá lợp. Nó viết bà Ba Khô cãi thầy Đức về chữ kính trình, tờ trình dài thêm nửa trang.
Tới chỗ bà run tay, ngòi bút đứng lại. Ngoài bếp bà ho khan một tiếng, rồi tiếng nhai trầu trở lại, đều đều.
Giọt mực đọng ở đầu ngòi, đen và tròn, rồi rơi xuống, bung thành một vệt trên chữ Tửng. Kình ngó vệt mực. Nó cuộn tờ giấy lại, mở ra, trải phẳng chỗ khác, và viết tiếp sang chuyện ông già giao kèo, chín giạ hay mười giạ lúa.
Giấy trắng kia giờ có một vệt đen. Kình để nguyên.
Tối hôm sau, nó đem tờ trình qua tiệm. Ông Sáu ngồi sau quầy gõ bàn tính, gõ lộn ba lần. Thầy Đức ngồi dưới ngọn đèn dầu của tiệm, tay cầm tờ giấy giơ cao gần ánh sáng, môi mấp máy nhịp nhàng như người đếm. Ông đọc từ trên xuống dưới, không bỏ dòng nào. Kình đứng nhận tội trước bàn, tay chắp sau lưng, hai bàn chân xoắn vô nhau.
Thầy Đức đọc tới cuối. Ông gật.
"Thể thức đúng."
Kình thở ra.
"Thiếu một việc."
Ông gấp tờ giấy làm tư, đưa trả tận tay nó, không nói việc đó là việc gì.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 6 →