Thằng Tửng xách xâu khô cá sặc tới, đặt cái bịch xuống bậc cửa, rồi móc trong túi quần ra một tờ giấy nhàu như cái lá chuối.

"Mày đọc giùm tao cái này coi."

"Đọc gì?"

"Biết đâu. Ông Sáu Lợi nhét vô tay tao hồi sáng, biểu về đưa cho cha tao. Cha tao đi ghe rồi." Tửng vuốt tờ giấy cho thẳng, vuốt hoài không thẳng. "Mày biết chữ rồi. Chắc đọc ra được."

Kình cầm tờ giấy. Chữ ông Sáu nguệch ngoạc như dây leo mắc mưa. Nó đọc thầm một lượt, rồi đọc to.

"Tiền lá lợp nhà. Năm tiền. Hạn cuối tháng."

Tửng há miệng. Ngó cái xâu khô, ngó Kình. "Năm tiền?"

"Năm tiền."

"Vậy xâu khô này tao đem về." Tửng chộp cái bịch lên, bị Kình nắm tay lại.

"Khô đó mày đưa tao đọc."

"Mày đọc có năm dòng."

"Chữ có giá, à nghen. Đọc một dòng một con."

"Cướp!"

"Thôi, nửa xâu." Kình chia đôi, đẩy nửa kia về phía nó. "Còn tờ này mày đem đưa cha mày, đọc lại đúng như tao đọc. Năm tiền, đừng đọc thành ba."

"Ba nghe sướng hơn."

"Ba nghe sướng, tới cuối tháng ông Sáu đòi năm."

Tửng gãi đầu, xách nửa xâu chạy về phía ruộng, vừa chạy vừa lẩm nhẩm năm tiền, năm tiền cho khỏi lộn.

Tin thằng Kình biết chữ lan nhanh hơn nước nổi. Tới trưa, trên bậc cửa nhà lá đã có một hàng người ngồi chờ. Bà Ba Khô gói tôm khô trong lá, đòi viết thư cho thằng con đi ghe buôn tận miệt trên. Một ông già ôm tờ giao kèo ruộng cuộn tròn như điếu thuốc, nhờ đọc cho nghe từng chữ. Một chị bồng đứa nhỏ mới đầy tháng, muốn đặt tên lên miếng gỗ treo đầu nôi.

Kình trải chiếu, bày nghiên mực, ngồi xếp bằng như hồi ở Giám. Công thì khỏi tính tiền, người ta trả bằng cái gì nhà có: trứng vịt trong rổ, xâu khô, một bó điên điển vàng rực để nguyên cả cọng. Cộc nằm trên đòn tay trong nhà, lẩm bẩm.

"Mày lãi hơn tao tưởng."

"Hồi nào mày cũng nói tao ế."

"Giờ tao nói mày lãi. Chia tao một con khô."

Ông già giao kèo ngồi xuống trước, hai tay đặt trên đầu gối. Kình mở tờ giấy ra đọc từng dòng. Tới dòng thứ năm ông giơ tay chặn.

"Chỗ đó ghi sao?"

"Mỗi vụ trả mười giạ lúa."

"Mười?" Ông già nhướng mày. "Thằng chủ ruộng nói chín."

"Chữ nói mười, ông ơi."

"Nó nói chín trước mặt tui."

"Nó nói chín, chữ nói mười." Kình chỉ ngón tay xuống nét bút. "Ông coi nè, con số này nó viết lớn hơn mấy chữ kia."

Ông già nhìn nét bút một hồi lâu, như nhìn mặt thằng chủ ruộng hiện lên trong đó. Rồi ông cuộn tờ giấy lại, đứng dậy, đi thẳng, không ngoảnh lại trả công.

Đang viết dở dòng thứ ba cho bà Ba Khô thì có bóng người đứng trên bờ ruộng, ngay sau lưng hàng người. Áo chàm bạc thếch. Thầy Đức đứng đó, hai tay chắp sau lưng, đọc ngược từ trên vai Kình xuống.

"Chỗ này," thầy nói.

Kình dừng bút. "Dạ thầy."

"Thư gửi con thì không cần chữ kính trình. Bà viết cho con trai, không viết cho quan."

"Con tui đọc được thì được." Bà Ba Khô ngoái lại, chống nạnh. "Thể thức gì."

"Đúng phép thì đọc được lâu hơn."

"Lâu là lâu cỡ nào?"

"Cỡ nào tờ giấy còn."

"Tờ giấy tui gói khô, nó còn tới bữa cơm chiều." Bà Ba hất cằm. "Con tui thương mẹ thì đọc, đâu cần quan coi."

"Thương mẹ cũng đọc đúng thể thức được."

"Thầy có mẹ không?"

Thầy Đức im một chút. "Có."

"Thư thầy viết cho mẹ có chữ kính trình không?"

"Không."

"Vậy chớ." Bà Ba gật đầu cái rụp, như thắng cuộc, rồi quay sang Kình. "Viết đi con. Khỏi kính trình."

Kình cắn môi cho khỏi cười, cúi xuống viết. Nó nghe thầy Đức thở ra một hơi nhẹ, thở xong ông bước xuống bờ, đứng sửa tiếp cho chị bồng con: tên đứa nhỏ phải tránh chữ trùng tên ông bà, ông nội nó tên gì?

"Ông nội tên Thạnh."

"Vậy tránh chữ Thạnh."

"Tui định đặt Thịnh."

"Thịnh với Thạnh đọc gần nhau. Đặt chữ khác." Thầy nghĩ một lát. "Chữ Phát."

"Phát nghe được." Chị bồng con cười. "Cảm ơn thầy."

"Đừng cảm ơn tôi. Cảm ơn cậu Kình, cậu ấy viết."

Kình viết tên Phát lên miếng gỗ, nét cuối cắt ngọt. Chị bồng con trả nó mười quả trứng, nó từ chối năm quả, chị bắt nhận hết.

Gần xế chiều, hàng người thưa dần. Một người đàn ông lạ mặt ngồi xuống chiếu, mặt rám nắng, tay xoắn vạt áo.

"Chú viết giùm tui một lá bùa giữ ghe."

"Dạ?"

"Bùa giữ ghe. Nước năm nay hung quá. Tui sợ."

Kình đặt bút xuống. "Chú, con chỉ viết thư à nghen. Thư với giao kèo với tên con nít. Bùa con không biết viết."

"Chữ gì cũng là chữ."

"Chữ gì cũng là chữ, nhưng con viết bậy ra sao chú sợ hơn."

Thầy Đức không nói gì. Ông bước lên một bước, đứng ngay cạnh Kình, vai áo chàm gần chạm cái nghiên mực. Người đàn ông nhìn thầy, nhìn cái thẻ gỗ lủng lẳng bên hông thầy, rồi đứng dậy.

"Thôi. Chắc tui ra chợ hỏi."

Ông đi dọc bờ ruộng, lưng khom, vạt áo còn ẩm bùn.

"Ông ấy sợ nước thôi," Kình nói.

"Tôi thấy."

"Con không viết bùa."

"Tôi cũng thấy." Thầy Đức không quay đầu. Ông ngó theo cái lưng khom kia cho tới khi nó khuất sau bụi chuối.

Chiều tối, Kình dọn chiếu, đếm trứng được hai chục lẻ, khô năm xâu, bó điên điển héo đi một nửa. Cộc lăn một con khô vô chái, nhai rôm rốp. Thầy Đức bước vô sân, lấy trong túi vải ra một tờ giấy trắng, mép cắt vuông vức, đưa tận tay.

"Mai viết cho tôi một tờ trình. Thể thức đúng. Kể việc cậu làm từ lúc về tới giờ."

Ông quay về phía tiệm, áo chàm lẫn dần vào bóng chiều. Tờ giấy trong tay Kình trắng tới mức nó không dám đặt xuống chiếu, sợ dính mực.

Hết Chương 4
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 5 →
← TrướcTiếp →