Bấc đèn vặn nhỏ tới mức ngọn lửa chỉ còn bằng hạt gạo. Kình ngồi bó gối bên cây đèn đặt trên rễ mít, canh tư, mắt dán vào cái chấm vàng đó như dán vô ngọn lửa duy nhất còn lại trên đời.
Phía bờ bên kia, cách chừng hai chục sải nước, có một đốm đèn khác. Nó đứng yên. Mấy đêm nay nó đứng yên đúng chỗ đó, không nhích, không tắt, như con mắt của ai ngồi canh một cái lu nước.
Kình giơ tay vẫy một cái, nhỏ thôi. Đốm đèn bên kia không đáp, nhưng cũng không tắt. Nó hiểu vậy là đủ.
"Cậu vẫy ai?"
Ông già đã ngồi dựa thân mít từ lúc nào. Tóc bạc buộc gọn, tay đặt trên gối, mắt nhìn ngọn đèn nhỏ xíu như nhìn một thứ hiếm.
"Dạ, thầy con. Thầy ngồi bên kia coi chừng con."
"Coi chừng cậu, hay coi chừng tôi?"
"Chắc cả hai ông."
"Người đó đúng phép." Ông Gò gật. "Tôi không ghét."
Kình ngạc nhiên, rồi không nói gì. Hai bên im lặng một lúc. Rồi ông già lên tiếng, giọng nhỏ, chậm.
"Hồi ấp còn, rằm nào trẻ con cũng tụ quanh gốc mít này đánh trống ếch. Chúng nó chạy vòng quanh, đứa gõ, đứa hát, đứa ăn ổi."
"Ông nhớ mặt chúng nó không?"
"Nhớ ba đứa. Thằng Lùn, nó ham ăn. Con Sậy, nó mau miệng. Thằng Bé Cò, nó hay trốn sau gốc rồi nhảy ra hù." Ông ngừng. "Giờ đều chết già."
"Ông đứng nhìn chúng lớn?"
"Tôi ngồi."
"Ông không buồn hả?"
"Buồn cái gì. Chúng nó sống đủ." Ông nhìn xuống đôi tay mình. "Chỉ là không ai gọi tên tôi lần cuối."
Kình nghĩ tới câu ông Cai Kỷ nói hôm trước, về chuyện làm đơn, bảo lãnh, tra ba năm. Nó hỏi mà không chuẩn bị gì hết.
"Ông có muốn vô sổ không?"
Ông già không đáp. Mặt ông không đổi, nhưng sương quanh ông như đặc lại, rất nhẹ. Mãi lâu sau, ông ngẩng lên.
"Cậu có muốn vô sổ không?"
"Dạ?"
"Cậu nghe tôi hỏi."
"Con có trong sổ rồi. Tên con ghi ở Giám."
"Có tên trong sổ, với muốn vô sổ, hai cái khác nhau."
Kình há miệng, ngậm lại. Nó không biết trả lời sao. Cái câu hỏi lật ngược đó nằm trong ngực nó, nặng, không tìm được đầu nào để bám.
"Con để con nghĩ," nó nói.
"Ừ." Ông Gò nhìn ra mặt đồng. "Ai cũng cần nghĩ."
Ban ngày, Kình ngồi sau cái bàn chép hộ ở hiên tiệm ông Sáu, và thấy Khuê lạ.
Cô ngồi kế bên như mọi hôm, cây bút xếp thẳng hàng, nghiên đặt đúng góc. Nhưng cô sửa chữ cho Kình mà không chê nét nào. Cô chỉ chạm cây bút vô tờ giấy, vẽ lại một nét ngang, khẽ như người ta đắp lại chăn cho con nít, rồi rút tay về, không nói chữ nào.
"Khuê bệnh hả?"
"Muội không bệnh."
"Hôm nay Khuê không chê chữ tui."
"Chữ huynh tiến bộ."
"Hôm qua Khuê nói nét ngang tui hụt."
"Hôm qua muội nói vậy."
"Vậy hôm nay nó hết hụt hả?"
"Muội không muốn cãi." Cô nhìn xuống tờ giấy. "Huynh viết đi."
Cộc nhảy lên bàn, rình mẩu bánh in lá dứa nằm trên đĩa của Khuê. Mọi hôm cô gạt tay nó ra, cằn nhằn nửa canh giờ về chuyện lấy cái không phải của mình. Hôm nay cô đẩy cái đĩa về phía nó.
"Cô cho tao hết?"
Khuê không đáp. Cô đẩy cái đĩa thêm một chút nữa.
Cộc nhìn đĩa, nhìn Khuê, rồi nhìn Kình. "Cô này bệnh thiệt rồi. Mà bệnh thì cho thêm." Nó chộp bánh, ăn một hơi, nhưng mắt vẫn liếc cô như liếc cái bẫy chuột.
Khuê không nhìn thẳng mặt Kình. Cô nhìn cây bút, nhìn tờ giấy, nhìn tấm giấy CHÉP HỘ trên cột, nhìn chỗ nào cũng được trừ cái mặt nó. Kình thấy lạ, lạ như người ta thấy nước giếng bỗng ấm, mà nó không đoán được vì sao.
"Khuê."
"Dạ."
"Khuê có giấu gì không?"
"Muội không giấu."
"Vậy sao Khuê không nhìn tui?"
"Muội đang soát chữ."
Cô soát chữ rất lâu. Rồi cô hỏi, giọng nhẹ như hỏi chuyện thời tiết, mắt vẫn ở trên giấy.
"Nếu Giám gọi huynh ra Thăng Long, huynh có đi không?"
"Giám gọi hả?"
"Muội nói nếu."
"Nếu hả." Kình cười, gãi đầu. "Gọi thì đi. Có ghe chở khỏi chèo, sướng thấy mồ."
Khuê cười. Cô cười không ra tiếng, khóe miệng nhích lên một nửa rồi rơi xuống, và Kình thấy cái cười đó giống cái người ta dán lên mặt cho đủ lễ.
Nó không hỏi tiếp. Nó viết nốt tờ thư cho bà Ba, chữ vẫn đứng đều.
Chiều xuống, đò thư ghé bến. Kình đứng trên cầu ván, bên cạnh thầy Đức.
"Thầy gửi giấy xin bắt ổng rồi hả?"
"Tôi giữ đúng hẹn năm ngày."
"Thầy giận con không?"
"Tôi không giận. Tôi ghi." Thầy nhìn chú Tám, không nhìn nó. "Cậu coi, cái hẹn cũng là một việc phải ghi."
Chú Tám nhận một phong giấy dày từ tay thầy. Phong giấy có niêm, có ba dấu, có chữ viết nắn nót đề ở mặt ngoài. Chú Tám bỏ nó vô túi, buộc dây gai, ném vô lòng xuồng.
"Chuyến này tới Giám bao lâu hả chú?"
"Ghe công văn chạy suốt cũng ngót nửa tháng. Đò thư thì lâu hơn." Chú Tám đẩy sào. "Còn tùy nước."
Đò thư rời bến. Kình đứng nhìn nó trôi qua mặt nước đỏ chiều, nhỏ dần, nhỏ dần, như một chiếc lá. Nó nghĩ tới tờ giấy trong hốc mít, nghĩ tới ông già ngồi canh một cái lu rỗng.
Ngay lúc đó, từ phía ngoài khúc rạch, một chiếc ghe thon chạy vô bến, mũi cắm lá cờ nhỏ màu thẫm. Người chèo nhảy lên cầu, cúi chào một cái cộc lốc, và đưa cho thầy Đức một ống thư bằng tre, nắp niêm sáp đỏ, còn nóng.
Thầy Đức cầm lấy. Ông nhìn ống thư, không nhìn Kình. Ông quay đầu, chậm, sang phía Khuê đang đứng dưới gốc dừa cuối cầu.
Khuê không nhúc nhích.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 48 →