Ông Sáu Lợi dán tấm giấy lên cột hiên bằng ba hạt cơm nguội, lùi ra xa ngắm, rồi gật gù như vừa treo một bức tranh.

"CHÉP HỘ. TRẢ BẰNG GÌ CŨNG ĐƯỢC."

Chữ nguệch ngoạc, nghiêng về bên phải, chữ ĐƯỢC thiếu một nét ngang nên đọc ra thành ĐUỢC. Kình ngồi sau cái bàn mượn, một chân kê hòn gạch cho khỏi cập kênh, ngước nhìn tấm giấy.

"Chữ ông như con lươn mắc câu."

"Mày khéo nhái câu tao." Ông Sáu Lợi chùi tay vô tạp dề. "Tao dán cho mày kiếm khách. Mày không cảm ơn thì thôi."

"Cảm ơn ông Sáu. Mà ông thiếu một nét."

"Thiếu thì người ta hiểu. Thừa mới khó hiểu."

"Cái đó luật ai?"

"Luật tao."

Khuê ngồi kế bên Kình, xếp ngay ngắn ba cây bút, một nghiên mực, một tờ giấy nháp. Cô liếc tấm giấy trên cột, liếc ông Sáu Lợi, rồi quay lại tờ nháp, và không nói gì, nhưng bàn tay cô nắm cây bút chặt tới mức đầu ngón tay trắng bệch.

Người đầu tiên tới là bà Ba Khô, bà bán tôm khô sạp kế sạp ngoại, nón lá cầm tay, mắt đã đỏ trước khi ngồi xuống.

"Con viết dùm tui cái thư cho con Hai. Nó lấy chồng ở Cần Thơ ẩn, ba năm chưa về."

"Dạ, bà nói."

"Con ghi là mẹ khỏe."

"Dạ."

"Ghi là tôm năm nay..." Bà Ba hít một hơi. "Ghi là tôm năm nay ngọt. Mẹ để dành một gói."

Bà ngừng. Nước mắt chảy dọc hai bên mũi, bà lấy khăn chùi mà vẫn tiếp tục nói. Kình viết theo. Mỗi chữ bà nói ra là một giọt, và tờ giấy ngấm hết, nên Kình phải lau mép bàn bằng tay áo. Khuê đưa cho bà cái khăn sạch của cô, không nói gì.

"Con ghi mẹ nhớ không?" Kình hỏi khẽ.

"Đừng." Bà Ba lắc đầu. "Nó đọc nó khóc. Ghi tôm ngọt thôi."

"Dạ, tôm ngọt."

Bà Ba để lại một xâu tôm khô buộc lạt, và đi ra, quay đầu nhìn hai lần.

Sau bà là một ông tới nhờ ghi giấy mượn trâu: mượn ba ngày, trả một buổi cày, trâu có tên Lác. Kình cười thầm vì con Lác này nó mới chép hôm qua trong sổ thuế của ông Cai Kỷ. Sau ông là một đứa nhỏ, chừng bảy tuổi, tay nắm cần câu tre, mũi dãi thò thụt, đứng sát bàn.

"Anh ơi, viết tên em lên cái này."

"Tên em là gì?"

"Chín."

"Chín gì?"

"Chín thôi. Hồi sanh em là con thứ chín."

Kình viết chữ CHÍN lên thân cần câu, nét ngay như cọc tiêu. Đứa nhỏ đặt vô tay Kình một nắm bông điên điển vàng, nắm chặt tới nát cánh, rồi chạy đi, tay còn quơ cần câu ngang đầu mọi người.

Rổ bên bàn đầy dần. Trứng vịt, một mớ khô cá sặc, bông điên điển. Ông Sáu Lợi đứng sau quầy gõ bàn tính lách cách, không nhìn, và cười như người đếm tiền của người khác.

"Chữ này nét ngang hụt," Khuê nói, chỉ vô tờ giấy mượn trâu Kình vừa chép.

"Hụt chút xíu."

"Hụt là hụt. Huynh kéo thêm một tơ."

"Kéo thêm thì nó thành chữ khác."

"Chữ nào?"

"Chữ... chữ con trâu cười."

"Chữ con trâu cười?"

"Tui đùa."

Khuê hít một hơi dài. "Huynh đùa dở."

"Vậy Khuê sửa."

Cô sửa, một tơ, và nét ngang đứng thẳng như chân bàn. Kình nhìn, khen thầm, nhưng không nói. Ông Sáu Lợi từ sau quầy ngó ra, cười hề hề.

Trời xế thì có một ông già tới. Ông còng lưng, chống gậy tre, nhỏ người, tóc bạc như lau, bước từng bước dè dặt như sợ làm đau nền hiên. Ông cúi đầu chào ba người một lượt rồi ngồi xuống cái ghế đẩu.

"Dạ, tôi tên Tám Khế. Gốc ấp Gò Mít, hồi ấp còn."

Kình ngừng bút. Nó nghe tên ấp như nghe tiếng mõ trong đêm.

"Dạ, ông cần viết gì?"

"Tờ sớ. Cúng rằm tới." Ông Tám Khế đặt hai tay lên đầu gậy. "Con cháu tôi không ai biết chữ. Rằm nào cũng cúng chay, mà cúng không sớ nó cứ trống trải."

"Cúng ai, ông?"

"Cúng ông." Ông nói như chỉ cho cả ấp. "Ông thành hoàng chỗ tôi."

Kình liếc Khuê. Khuê không nhìn lại. Cô nhúng bút vô nghiên, đưa nó.

"Dạ, con viết."

Nó viết theo mẫu thầy dạy ở Giám, đầu sớ ghi ngày, tên người cúng, nơi cúng. Chữ chạy đều, đứng thẳng. Tới dòng thứ tư thì tay nó dừng trên chữ đầu.

Kính xin.

Cả cái tờ sớ, mẫu nào cũng bắt đầu dòng đó bằng hai chữ ấy. Kình nhìn hai chữ, thấy nó nặng bằng đá. Nó nhớ bàn tay ông già giơ lên, ngón dựng thẳng. Đừng xin.

"Sao huynh dừng?" Khuê hỏi nhỏ.

"Chỗ này tui không viết xin."

"Sớ không có xin là sai mẫu."

"Sai mẫu mà đúng người."

"Mẫu là mẫu. Sai một chữ thì cả tờ sớ không hợp lệ."

"Hợp lệ với ai?"

"Với Giám."

"Giám có ăn rằm này không?"

"Huynh nói gì vậy?"

"Ông Gò ổng ghét chữ xin. Ổng nói ba mươi mốt năm ổng nghe xin hoài."

Khuê im. Ông Tám Khế nghiêng đầu, không hiểu, mắt hiền như con trâu già.

"Vậy viết chữ nào?" cô hỏi, giọng đã dịu.

"Kính thưa."

"Kính thưa là thưa chuyện. Sớ là cầu."

"Mình thưa chuyện, ổng nghe."

Khuê nhìn tờ giấy. Rồi cô thở ra, rất chậm, và nhúc nhích cái cằm một phần ngàn. "Kính thưa. Muội chốt."

"Khuê đồng ý hả?"

"Muội không đồng ý. Muội chốt."

Ông Tám Khế khen chữ đẹp quá, khen không dứt, đặt xuống bàn ba quả trứng vịt và một nắm lá chuối non, rồi lom khom đi mất sau khúc quanh. Kình thổi cho khô mực, gấp tờ sớ làm tư, nhét vô ngực áo.

"Sáng mai tui đọc cho ổng nghe," nó nói. "Khuê đi không?"

Khuê đã đứng dậy, hộp bút xếp xong, túi đeo trên vai, từ trước khi nó hỏi hết câu.

Hết Chương 44
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 45 →
← TrướcTiếp →