Con dấu gỗ của cai tổng nằm trên bàn, cạnh cái nghiên, sạm đen như cục than, góc dưới mòn tròn vì ba chục năm một bàn tay cầm đúng một chỗ.

Ông Cai Kỷ không gấp cuốn sổ lại. Ông đặt nó giữa bàn, mở sẵn ở dòng ông vừa nhìn, rồi ngồi xuống đối diện thầy Đức, hai tay chống lên mép gỗ. Khuê ngồi bên trái thầy, Kình ngồi bên phải, hơi lui ra sau, như học trò ngồi nghe người lớn nói chuyện.

"Hồi đó tôi là thư lại trẻ nhất tổng," ông Cai Kỷ nói. "Quan trên bắt ngồi chép sổ thần cho mấy ấp bị nhập. Ấp nào cũng cử người đọc tờ khai. Gò Mít cử một ông cụ trưởng ấp, đọc miệng. Sắc cũ của miếu cháy hồi năm lụt, không còn tờ nào để trình."

"Ông cụ đọc tôn hiệu?" thầy Đức hỏi.

"Đọc đủ, tôi chép đủ, vô sổ tổng. Sau đó xã lớn lập sổ mới, chép lại từng ấp từ tờ khai nộp lên xã. Tờ của Gò Mít chưa kịp nộp thì ông cụ mất." Ông gõ ngón tay xuống trang giấy. "Không ai bỏ ông thần đó, chỉ là không ai nhớ đưa ông vô."

"Sổ sót," Khuê nói.

"Sổ sót. Thần thì không sai."

Kình nghe, thấy cổ họng nhẹ đi một chút. Nó nhớ ông già ngồi dựa thân mít, nhớ cái câu tên tôi không ai chép qua. Hóa ra có người chép, chép rồi, chỉ là cái sổ này nằm trong hòm chứ không nằm trong cái sổ người ta cầm đi nộp.

"Vậy ông Gò đâu có lỗi," nó nói. "Dân vẫn cúng, mà lễ không tới ổng. Lỗi ở cái sổ."

"Cậu nói đúng." Ông Cai Kỷ gật. "Lỗi ở cái sổ."

"Vậy sao..."

"Nhưng cậu nói chưa hết." Ông nhìn nó, giọng không cao, cũng không dịu. "Cậu có biết sổ để làm gì không?"

"Dạ, để ghi tên thần."

"Để thần có bề trên. Thần có tên trong sổ thì có thành hoàng xã trên, có huyện, có Giám. Thần làm bậy thì có người chịu. Thần làm phước thì có người ghi công."

"Ông Lựu cũng nói vậy. Thần không sổ là thần không bề trên."

"Câu đó của tôi." Khóe miệng ông nhúc nhích. "Hồi nó mới nhận chức, tôi nói. Nó chép lại đúng chữ mà không chép cái đằng sau."

"Cái đằng sau là gì?"

"Ông chủ đất ở Hai Gốc Sao đang nằm liệt giọng. Vợ ổng sáng nay sang tận đây hỏi tôi ai đền." Ông Cai Kỷ đưa tay chỉ ra cửa, về hướng bên kia rạch. "Tôi chỉ bà ra gốc mít sao cậu? Đền cho bà bằng ai, bằng cái gốc cây? Người chết ở Dừa Sẹo, thần giữ cầu có tên trong sổ, tôi còn biết đường lên huyện mà kiện. Thần không sổ thì kiện ai?"

Khuê mở miệng. "Thưa ông, theo luật của Giám, thần ngoài sổ..."

Cô ngừng. Cô nhìn thầy Đức. Hai ngón tay trái của thầy nằm yên trên đùi, không gõ, và Khuê khép miệng lại như đóng nắp hộp bút.

"Cô nói đi," ông Cai Kỷ bảo.

"Con xin rút lời."

"Cô nhỏ biết điều." Ông quay lại Kình. "Còn một chuyện nữa, cậu nghe cho kỹ, vì đây là chuyện tôi nghĩ nhiều nhất. Đói thì nhận lời bất cứ ai gọi."

"Ông Gò không nói ổng đói."

"Ổng không nói. Thần nào cũng không nói. Nhưng ba mươi mốt năm không được ăn lễ chính thì ổng ngồi đó làm gì? Chờ người đưa cho ổng một tờ giấy." Ông thở ra. "Cái sổ không phải để trói thần. Cái sổ để thần có lễ chính, khỏi phải bán mình cho người lạ."

Gian nhà im. Ngoài sân, một con gà mái cục tác, rồi cũng im.

"Cậu thương ông Gò," ông Cai Kỷ nói tiếp, chậm hơn, "thì đi xin cho ổng vô sổ. Đừng ngồi gốc mít nghe ổng kể khổ."

"Ổng ghét chữ xin."

"Vậy cậu đừng xin. Cậu làm đơn. Cậu tìm người bảo lãnh. Cậu chịu tra ba năm." Ông nhìn thẳng. "Cái đó khác xin. Cái đó là làm."

Kình mở miệng. Nó thấy mình có cả chục câu muốn nói, mà câu nào đưa ra cũng bị câu của ông cai chặn lại giữa chừng. Nó nghĩ tới bá Thâu nằm trên giường, vợ ổng nắm tay ổng. Nó nghĩ tới ông già ngồi dựa gốc mít, tay không run. Hai cái nghĩ nằm hai đầu một cái cân, và đầu nào nó cũng không bỏ được.

"Con không cãi được," nó nói.

"Tôi không cần cậu cãi." Giọng ông Cai Kỷ dịu hẳn. "Tôi cần cậu nhớ."

Thầy Đức không nói gì. Ông cúi xuống sổ, ghi một dòng rất ngắn.

Ông Cai Kỷ đứng dậy, đi tới góc bàn, lấy ra ba tờ giấy nhăn nhúm, ám mùi tỏi. Ông trải chúng ra trước mặt Kình.

"Thuế trâu ba nhà. Mắt tôi dạo này kém, chép cái là nhòe. Cậu chép giùm tôi."

"Dạ?"

"Cậu đọc được sổ, chắc chép được tờ khai."

"Dạ, con chép được."

"Chép."

Kình kéo cái nghiên lại, cầm bút. Nó chép tên chủ, tên trâu, số sừng, số năm. Một con trâu có cái tên Lác, một con tên Bự, một con tên Ba Chân, và nó cười mím môi mà không ngẩng lên. Ông Cai Kỷ đứng sau lưng nhìn qua vai nó, hơi thở nặng mùi trầu.

"Chữ có xương," ông nói.

"Dạ?"

"Chữ có xương. Nét đứng được. Chữ người viết mới học thường mềm như bún."

Tai Kình đỏ lên. "Dạ, con cảm ơn."

"Đừng cảm ơn. Chép tiếp."

Chiều xuồng về, nước nổi bắt đầu xuống nhẹ, lộ những ngọn cỏ ướt ở mé bờ. Thầy Đức chèo đuôi, không nói. Kình chống sào mũi, cũng không nói. Cái im của hai người nằm chình ình giữa xuồng như một con cá chưa ai dám bắt.

Khuê ngồi giữa, không ôm hộp bút. Cô mở bản chép tờ sắc của Kình ra, đặt lên đầu gối, nhìn một lúc, rồi mở thêm cuốn sổ nhỏ, nơi cô đã vẽ lại một dòng chữ từ trang sổ của ông Cai Kỷ lúc ông còn mải nói. Cô so hai thứ với nhau, môi mấp máy, rồi lấy bút gạch một nét dưới một chữ ở giữa dòng.

"Huynh coi."

Kình ngoái lại. Dòng chữ chép trong sổ của ông Cai Kỷ năm hai mươi hai tuổi, mười hai chữ tôn hiệu, và dòng trên tờ sắc trong hốc mít, cũng mười hai chữ. Ở chữ thứ bảy, cái chữ mà Khuê nói sách nào cũng chép khác nhau, hai bên viết giống y nhau.

"Không lệch một nét," Khuê nói, rất nhỏ.

Thầy Đức không ngoái đầu. Mái chèo trong tay ông vẫn đều, nhưng ông chèo chậm lại nửa nhịp.

Hết Chương 43
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 44 →
← TrướcTiếp →