Từ túi vải, thầy Đức lấy ra hai que tre vót mỏng, dài bằng ngón tay giữa, rồi đưa cho Kình một que.
"Cầm."
"Dạ, để làm gì thầy?"
"Banh mép. Tay không chạm vô giấy."
"Thầy theo con từ hồi nào?"
"Tôi ra đây trước cậu một canh." Ông quỳ một gối xuống rễ mít, ngó cái hốc. "Gốc mít này tôi biết từ bữa cậu về, gấu quần dính mủ. Tôi không hỏi cậu đi đâu. Tôi hỏi bà bán trầu."
"Thầy nghe con nói chuyện không?"
"Tôi nghe cậu hỏi. Tôi không nghe ai đáp." Thầy Đức không ngẩng lên. "Ghi vô sổ cũng chỉ ghi được vậy."
Ông không rút cuộn giấy ra. Ông luồn hai đầu que vô mép cuộn, nhẹ như người ta lật mí mắt con nít, và cuộn giấy hé ra một gang, đủ thấy mấy dòng chữ đầu. Mực đen đậm, nét thẳng, nền giấy vàng điểm bạc lóng lánh như vảy cá phơi. Thầy Đức rút từ túi một tờ giấy nháp, đặt lên đầu gối Kình.
"Cậu đọc. Đọc ra tiếng, chép luôn."
"Con chép được hả?"
"Cậu đọc được, cậu chép được. Tôi canh que."
Kình ngồi xuống rễ mít, kê tờ nháp, và dò theo từng chữ, môi đi trước mắt. Nó đọc chậm, âm nào chưa chắc thì đọc lại.
"Thái Ninh... Thiên Tào phụng chỉ. Sắc cho Thành hoàng ấp Gò Mít, tôn hiệu... Thuần, Hậu, Tĩnh, An." Nó ngẩng lên. "Bốn chữ đó là mỹ tự hả thầy?"
"Phải."
"Rồi ấn đỏ nè. Nó đóng đè lên chữ tháng, đúng chỗ. Thầy bắt con chép cái lệ này cả trăm lần ở Giám đó."
"Cậu học đúng." Thầy Đức dịch que sang trái một chút cho nó đọc nốt dòng cuối. "Người viết tờ này cũng học đúng. Đúng quá."
"Câu đó thầy nói ở Dừa Sẹo."
"Tôi nói ở đâu cũng được. Cái đúng nó giống nhau."
Kình chép xong dòng chót, thổi cho khô mực, đưa tờ nháp cho thầy. Thầy cẩn thận rút hai que tre ra, cuộn giấy khép lại trong hốc không xê dịch một sợi.
"Thầy không lấy nó ra hả?" Kình hỏi. "Nó nằm ngay đây."
"Đúng phép thì không."
"Sao vậy?"
"Gỡ tang vật của thần, phải có lệnh thu hồi của Giám. Muốn xin lệnh thì phải biết thần thuộc sổ nào." Thầy Đức gấp tờ nháp, nhét vô sổ. "Ông này có trong sổ, thì tội khác. Ông này không có trong sổ, thì tội khác nữa. Tôi không viết lệnh khi chưa biết tội nào."
"Vậy tụi mình đi tra sổ?"
"Tụi mình đi tra sổ."
Hai chiếc xuồng về tới bến Vàm Tre khi nắng đã lên quá ngọn dừa. Khuê đã đứng chờ trên cầu ván, áo xanh rêu cài tới cổ, hộp bút ôm trước ngực, như người sắp vào trường thi. Cô nhìn Kình, nhìn cái nón lá ướt sương, nhìn đôi giày dính mủ.
"Huynh lại đi sớm."
"Dạ."
"Muội nghe huynh dậy từ canh năm."
"Khuê nghe giỏi vậy sao hồi đó không nghe muỗi?"
"Muội nghe muỗi. Muội đếm."
Cô bước xuống xuồng ba lá, một chân, rồi chân thứ hai, và xuồng nghiêng. Cô ngồi phịch xuống giữa lòng xuồng, lưng thẳng tắp, hai tay ôm cái hộp bút thật chặt, không thèm bám mạn.
"Khuê bám mạn đi," Kình nói.
"Muội không cần."
"Xuồng nghiêng thì Khuê ngã."
"Muội ôm hộp bút. Hộp bút không rớt thì muội không rớt."
"Cái đó là luật gì?"
"Luật muội."
Thầy Đức chèo đuôi, mặt không biểu lộ gì. Kình chống sào mũi. Xuồng ra khỏi rặng dừa, vô con rạch rộng, nước nổi lớn cuốn theo từng đám lục bình tím. Khuê ngồi thẳng, mắt nhìn trước, mỗi lần xuồng chòng chành thì hộp bút trong tay cô lại ép sát vô ngực hơn. Mặt cô trắng dần.
Rồi một con muỗi đậu lên má cô. Khuê giơ tay lên đập, và vì xuồng nghiêng đúng lúc đó nên cái bốp nghe rõ cả rạch. Má cô đỏ hồng một mảng.
Kình bật cười, không nhịn được.
"Huynh cười gì."
"Không có gì."
"Huynh chống xuồng cho đàng hoàng thì muội đâu phải ôm."
"Tui chống đàng hoàng mà."
"Xuồng đang lắc."
"Xuồng nào chả lắc. Đó là nước."
"Nước biết điều thì xuồng đâu có lắc."
"Khuê nói chuyện với nước hả?"
"Muội không nói chuyện với nước," Khuê nói, mặt vẫn nhìn trước. "Muội trách nước."
Thầy Đức hắng giọng. Cái khóe miệng ông không nhúc nhích, nhưng mái chèo trong tay ông trượt một nhịp, bắn lên một tia nước nhỏ.
Nhà việc của tổng nằm bên kia rạch, trên một cái nền cao lót gạch, mái lá dày, cột gỗ đen bóng vì nhiều bàn tay chạm. Người gác cổng nhìn tấm thẻ của thầy Đức, nhìn lâu hơn cần thiết, rồi dẫn cả ba vô gian giữa. Ở đó có một cái bàn gỗ dài, một cái hòm sổ khóa đồng, và một ông cai tổng đã ngồi chờ sẵn.
Ông này thấp hơn ông Lựu, lưng vẫn thẳng, tóc muối tiêu cắt ngắn, tay áo sạm mực tới khuỷu. Ông đứng lên chào bằng cái cúi đầu vừa đủ.
"Thưa ông Cai Kỷ," thầy Đức nói. "Chúng tôi xin xem bản sổ thần lưu từ ba mươi mốt năm trước."
"Sổ tôi giữ đủ cả." Ông Cai Kỷ mở khóa, nhấc nắp hòm, và rút ra một cuốn sổ dày, bìa đã mốc xanh ở góc. "Ông Lựu bên Hai Gốc Sao giữ sổ xã. Sổ tổng nằm ở đây. Hai cuốn không giống nhau đâu."
Ông lật trang. Giấy giòn, kêu sột sạt. Ngón tay ông lướt qua mấy chục dòng chữ cũ, rồi dừng lại ở một dòng nằm lọt giữa trang, nét còn non, mực bạc màu, mấy chữ nghiêng lệch như tay người mới học viết sổ.
Ông nhìn dòng chữ đó rất lâu. Ba đứa nhỏ nín thở.
"Chữ này tôi viết," ông Cai Kỷ nói nhỏ. "Năm đó tôi hai mươi hai."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 43 →