Kình nắn vắt cơm nếp bằng hai bàn tay ướt nước muối, gói lá chuối, buộc một sợi lạt, rồi đặt vô mũi xuồng cạnh cái chén sành đậy nắp vỏ dừa cho nước khỏi sánh.
"Mày đi đâu giờ này?" Cộc thò đầu ra khỏi cái nón lá cũ trong chái, giọng khàn như vừa được kéo lên từ giếng.
"Ra gốc mít."
"Đi một mình hả?"
"Mày đi với tui không?"
"Không."
"Sao không?"
"Chỗ cây mít đó muỗi to bằng con ong. Tao già rồi, tao không cho muỗi ăn." Cộc rút đầu vô nón. "Đi đi. Về nhớ mang đồ ăn."
"Tui mang cơm đi cho người ta."
"Vậy mang dư."
Kình đẩy xuồng ra khỏi bến lúc canh năm. Mặt đồng nước trắng đục, đặc như nồi cháo để nguội, và nó chống sào nghe tiếng nước chảy theo cán, chứ không thấy cán đâu. Núi Cấm ở xa chỉ còn là một mảng tối. Cách ba bước, nó không nhìn rõ mũi xuồng của chính mình.
Gốc mít cụt ngọn nhô lên khỏi nước như cái đầu người ngoi lên thở. Kình cột xuồng vô rễ, bước lên, và khi nó ngẩng đầu thì ông già đã ngồi đó, lưng tựa vô thân cây, hai tay đặt trên gối, như ngồi từ trước khi có gốc mít.
"Con chào ông."
"Cậu tới sớm."
"Dạ, con mang cơm."
Kình cầm vắt cơm đưa ra, hai tay, đúng kiểu đưa cho người lớn. Ông già không nhìn vắt cơm. Ông nhìn mặt nước.
"Cái đó cậu ăn đi."
"Dạ, con mang cho ông."
"Đưa tận tay là bố thí. Tôi không ăn bố thí."
Kình rụt tay lại. Nó ngồi xuống rễ mít, bóc lá chuối, cắn một miếng. Cơm nếp dẻo, mặn muối, còn hơi ấm từ lòng bàn tay nó. Ông già liếc sang, gật rất khẽ, cái gật của người vừa nhận lại một món lễ đúng phép.
"Ông ngồi đây hoài hả?" Kình hỏi, miệng còn nhai.
"Hoài."
"Ba mươi mốt năm?"
"Ba mươi mốt năm. Hồi đó người ta gộp ấp tôi vô xã lớn bên kia rạch. Đình xã chép sổ mới, tên tôi không ai chép qua."
"Dân còn cúng không ông?"
"Mỗi rằm." Ông nhìn lên ngọn cây cụt. "Họ đứng ngoài nền, khói nhang bay tới đây là tan. Như cái thư không đề tên người nhận. Người phát thư cầm đi một vòng, rồi bỏ lại."
"Tới ông mà không ăn được?"
"Cái mùi nó tới mũi," ông nói, "không tới bụng."
"Ai cúng, ông nhớ hết hả?"
"Nhớ. Có bà đội khăn rằn, năm nào cũng để miếng trầu. Có ông cúng chay, rằm nào cũng chay, tay run mà không bao giờ làm đổ chén nước." Ông ngừng một nhịp. "Có đứa nhỏ lén bỏ trái ổi. Giờ chắc nó đã bạc đầu."
"Ổi ông ăn không?"
"Tôi nhìn."
Kình nuốt miếng cơm xuống, thấy cổ họng mình chật. Nó nhìn nắm cơm còn lại trong tay, rồi nhìn đôi bàn tay ông già đặt yên trên gối. Nó nghĩ tới cái mâm cúng ngoại bày mỗi rằm, tới ba cây nhang cháy hết trơn, tới câu ngoại hay nói khi nhang tàn: "Ông bà ăn rồi."
"Ông cho con xin..." Kình nói, rồi tự cắn lưỡi. "Con hỏi. Con hỏi thôi, con không xin."
"Cậu nhớ nhanh."
"Dạ, hôm trước ông dạy."
Ông già hơi nghiêng đầu. "Ba mươi mốt năm tôi ngồi nghe người ta xin. Xin mưa thuận, xin lúa trúng, xin con khỏi đau. Xin hoài. Có ai hỏi tôi một câu đâu."
"Vậy con hỏi."
"Cậu hỏi."
"Cái tờ giấy dán ở cột nhà bá Thâu. Giấy đỏ, có ấn. Ông biết nó hả?"
"Biết."
"Ai đưa ông?"
"Có người đưa tôi một tờ giấy." Ông nói chậm, từng chữ đặt xuống như đặt chén. "Đủ chữ. Đủ dấu. Có tên tôi."
"Có tên ông?"
"Có tên tôi, viết đúng, chữ nào cũng đúng. Ba mươi mốt năm chưa ai viết tên tôi lên giấy."
"Ai đưa vậy ông?"
"Người đưa không cần mặt."
"Ông không thấy mặt?"
"Cậu có bao giờ nhận thư mà nhớ mặt người phát không?"
Kình mở miệng, rồi ngậm lại. Nó nhớ chú Tám đưa thư, nhớ cái nón lá đội lệch, nhưng mặt thì không. Nó gật.
"Tờ đó giờ ở đâu?"
Ông già không đáp. Ông nhìn ra mặt nước, nơi sương đang mỏng đi, chỗ trắng chỗ xám loang ra như mực nhỏ vô nước. Một con cò trắng từ đâu bay qua, đáp xuống mõm đất cách đó chục sải, rụt cổ lại.
"Trời sáng rồi," ông nói.
"Dạ, con chưa hỏi hết."
"Cậu hỏi nhiều quá, tôi không đáp hết. Cậu về ăn cơm đi."
"Mai con ra nữa được không?"
"Cậu muốn thì ra." Ông ngừng. "Ở đây không ai cấm."
"Con ra thì ông có hiện không?"
"Còn sương thì còn."
Sương mỏng dần. Hình ông già nhạt đi từ vai trước, rồi tới mặt, rồi tới đôi tay. Kình nhìn nó tan, thấy lạnh dọc sống lưng. Khi ông mất hẳn thì thân mít vẫn còn nguyên đó, sần sùi, mủ trắng rỉ ra từ một vết nứt. Ông già vừa dựa vô chỗ đó nói chuyện với nó.
Nó đứng dậy gói lá chuối lại. Ngón tay nó chạm vô một khoảng trống nơi gốc cây.
Ở sát rễ, chỗ thân mít khoét lõm vô thành một cái hốc, có thứ gì sáng sáng. Kình cúi xuống nhìn. Một cuộn giấy vàng điểm bạc, cuốn gọn, nằm trong hốc như trứng nằm trong ổ, mép son đỏ tươi chạm vô ánh sáng đầu tiên của ngày.
Cuộn giấy đẹp tới mức lạ. Không có bụi, không có mối, không có một hạt sương bám. Nó đưa tay ra.
"Đừng đụng."
Giọng ôn tồn, rất gần, ngay sau lưng.
"Tang vật."
Kình khựng tay giữa chừng. Nó quay đầu lại.
Thầy Đức đứng cách nó ba bước, áo chàm ướt sương tới vai, tay cầm cây bút và cuốn sổ, như đứng đó từ lâu lắm.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 42 →