Tờ đơn thứ năm cho bà góa Dừa Sẹo hiện ra dưới ngòi bút Kình, chữ ngay như hàng cọc, trong lúc thầy Đức ngồi đối diện chỉ ngón tay trỏ xuống từng chữ một, như chấm bài. Từ phiên chợ mùng năm tới giờ đã mười bảy ngày, bà góa vẫn chưa ưng tờ nào.

"Chỗ xưng, được. Chỗ trình, được. Chỗ nêu việc..." Thầy dừng. "Câu này dài."

"Dạ, con tả hết cho đủ."

"Đủ thì cắt bớt."

"Cắt thì thiếu."

"Thiếu có chỗ chừa. Người ta nhìn chỗ trống mà biết."

"Dạ, con nhớ." Kình cầm bút gạch hai chữ. "Nhưng con muốn chừa ít thôi, bà góa đọc không ra."

"Bà góa không đọc. Hương chức đọc."

"Hương chức cũng đọc không ra."

Thầy Đức ngước lên, nhìn nó. Môi ông mím, ngón tay dừng lại, như đang cân nhắc có nên khen không. Đúng lúc đó, có tiếng chèo quẫy nước ngoài bến, rất gấp, và tiếng người gọi vỡ giọng.

"Thầy ơi! Thầy tuần vùng ơi!"

Một thằng nhỏ mặt tái mét chạy vô sân, áo ướt dính lưng, tay còn nắm cán chèo. Nó thở dốc, miệng há, mắt không nhìn ai, chỉ nhìn vô thầy Đức.

"Thầy ơi, bá Thâu. Bá Thâu ấp Hai Gốc Sao. Ổng... ổng bị."

"Bị gì?"

"Bị bóp cổ."

Thầy Đức đứng dậy, rút sổ, và nói bằng giọng không cao không thấp. "Cậu tên gì?"

"Dạ Đực. Thằng ở nhà bá."

"Đực, ông còn thở không?"

"Còn thở. Mà không nói được."

"Đi."

Ấp Hai Gốc Sao cách Vàm Tre chừng một canh xuồng về hướng tây, qua mấy khúc rạch ngoằn ngoèo, hai bên toàn ruộng nước. Cả ba đứa đi, kể cả Khuê, ôm cặp giấy ngồi giữa, mặt căng như dây đàn. Piên ngồi sát mạn, hai tay nắm chặt mép. Kình chống sào không nói gì. Thầy Đức chèo đuôi, từng nhịp, từng nhịp, nhanh hơn mọi lần.

Nhà bá Thâu là nhà ngói lớn nhất ấp, ba gian hai chái, sân gạch, cổng gỗ có hai cột sơn đỏ. Trong gian giữa, người ta đã dọn bàn thờ cúng lên, nhang cháy nghi ngút, đàn bà con gái đứng chật cửa. Vợ bá Thâu ngồi bên giường, tay đặt trên tay chồng, mặt tái nhợt, mắt thâm quầng.

Trên giường, bá Thâu nằm nghiêng, người to, bụng phệ, mắt nhắm, miệng hé, thở yếu như người ngủ mê. Cổ ông quấn một mảnh khăn trắng, và khi thầy Đức xin phép kéo khăn ra, trên da cổ, ngay dưới yết hầu, hiện ra những vết bầm tím, dài, mảnh, thẳng, xếp thành hàng như dấu năm ngón tay gầy.

Không có máu, cũng không có vết cứa. Chỉ có bầm.

"Bà kể tôi nghe," thầy Đức nói.

"Dạ." Vợ bá Thâu nuốt nước miếng. "Đêm qua, đầu hôm, trăng chưa mọc, tui nằm ở gian kế bên. Nghe tiếng ổng ú ớ. Như người ta nuốt không trôi. Tui chạy vô."

"Phòng có ai không?"

"Không ai."

"Cửa?"

"Cài trong. Tui phải đạp mới vô được."

"Cửa sổ?"

"Cài luôn."

"Bà thấy gì không?"

"Thấy ổng nằm đó, hai tay quờ quạng, mắt trợn." Bà lấy vạt áo chặn miệng. "Tui kêu, ổng không nói được. Tới giờ vẫn không nói được."

"Bá hay ngủ mơ không?" Kình hỏi, rồi giật mình vì mình chen lời.

Vợ bá Thâu nhìn nó, hơi ngạc nhiên. "Ổng ngủ ngáy thôi. Ngáy ba chục năm."

"Dạ, con hỏi thôi."

"Cậu hỏi để làm gì?"

"Dạ, để biết. Con xin lỗi."

Nó nhìn thầy Đức, thầy Đức nhìn nó, và không ai trách ai.

Thầy Đức ghi. Ông không hỏi thêm, chỉ cúi đầu cảm ơn. Khuê đứng sau lưng ông, nhìn vết bầm, rồi nhìn đi chỗ khác. Kình nghe cô hít một hơi, hít sâu, như vừa thấy gì không nên thấy.

Ngoài cổng, thằng Đực chỉ tay lên cột. "Thầy, cái đó."

Trên cột cổng bên trái, dán ngay chính giữa, một tờ giấy đỏ.

Thầy Đức bước lên bậc, rút con dao nhỏ, lách mũi dao vô góc giấy. Kình đứng dưới, giữ cái ghế đẩu mượn của nhà bếp. Tờ sắc rời cột sạch sẽ, không rách. Thầy Đức xuống, đặt nó lên bàn đá ngoài sân, rút từ trong sổ một bản chép của tờ sắc Dừa Sẹo, đặt bên cạnh.

Cả bốn người chụm lại.

Hai tờ nằm cạnh nhau trên mặt bàn đá. Cùng thể thức. Cùng cỡ chữ. Cùng ấn đỏ đè lên chữ tháng, trùng khít từng sợi.

"Giống nhau quá," Khuê nói, nhỏ như thì thầm.

"Cô nói gì?" thầy Đức hỏi.

"Con nói giống nhau quá."

"Đúng." Thầy Đức không nhìn cô. "Cô đọc."

Khuê cúi xuống tờ giấy. Cô đọc chậm, từng chữ.

"Thái Ninh... Thiên Tào phụng chỉ. Sắc cho Thành hoàng ấp Gò Mít..." Cô ngừng. Cô nhìn tờ giấy lâu hơn cần thiết, rồi ngước lên. "Tôn hiệu dài mười hai chữ. Thể thức đúng. Nhưng thưa thầy, trong sổ thần của huyện mà con thuộc, không có ấp Gò Mít."

"Cô chắc?"

"Con thuộc sổ. Có Dừa Sẹo, có Hai Gốc Sao, có Vàm Tre. Không có Gò Mít."

Thầy Đức không nói gì. Hai ngón tay ông nằm yên trên mép bàn đá.

Piên đã bước vô phòng bá Thâu từ lúc nào, đứng cạnh giường, mắt nhắm, đầu hơi nghiêng. Kình thấy cô hít hơi, từng nhịp ngắn, như người nếm thử không khí.

"Có mùi lạ mà nè," cô nói. "Mùi nhựa cây. Còn tươi."

"Nhựa gì?"

"Piên không biết. Mùi hồi nhỏ Piên bẻ cây trên núi, có nước trắng chảy ra."

Kình bước ra bậc cửa phòng. Nó cúi xuống nhìn. Trên mặt bậc gỗ cũ, từng giọt nhỏ, trắng đục, đặc sệt, dính vô thớ gỗ. Nó đưa ngón trỏ quệt thử. Giọt mủ kéo thành sợi, dính tay nó như keo.

Mủ mít.

Nó nhớ cái mùi ấy. Mùi trái mít xẻ ra giữa nắng, cái nhựa dính tay rửa mãi không sạch. Nó nhìn xuống đất, nơi bậc thềm gạch dẫn ra sân. Trên gạch, một giọt nữa. Rồi một giọt nữa, cách nhau chừng hai bước chân dài.

Nó đứng dậy, đi theo giọt mủ. Qua sân, qua cổng, ra bờ ruộng, vệt trắng đứt quãng chạy dọc theo bờ đất, giữa hai mảng nước ngập, thẳng về phía tây, nơi một cái gò cao nhô lên khỏi ruộng nước, đen sẫm, đứng lẻ loi dưới bầu trời.

Hết Chương 36
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 37 →
← TrướcTiếp →