Ba người đang đứng chờ ở đầu dãy mắm, nơi cái ghế đẩu đã đứng sẵn, tấm ván kê ngang hai cái khạp làm bàn, nghiên mực đặt ngay giữa.
"Kình!" Bà Ba Khô vẫy tay từ sạp bên, tay còn cầm rổ. "Tui kê cho con rồi nghen. Chợ chiều đông, ai cũng cần viết thư."
"Bà Ba, sao bà biết con tới?"
"Tui không biết. Tui kê hoài, hôm nào con tới thì con ngồi."
"Hôm nào con không tới?"
"Thì tui ngồi."
Kình ngồi xuống, cầm bút. Ông lão chống gậy bước lên trước, râu bạc lơ thơ, áo vải bạc phếch, nói bằng giọng như trải lá chuối.
"Con viết dùm tao cái thư cho thằng con. Nó đi làm mướn xa, hai năm chưa về."
"Dạ, ông muốn viết gì?"
"Viết là tháng sau giỗ ba nó. Tao muốn nó về ăn giỗ."
"Dạ, con ghi."
"Mà đừng viết là tao nhớ nó."
Kình ngừng bút. "Dạ?"
"Đừng viết tao nhớ nó. Nó đọc tới đó nó tưởng tao yếu."
"Vậy con ghi sao?"
"Ghi là giỗ ba, nó không về thì mâm cơm thiếu một cái chén."
"Chén ai?"
"Chén nó. Nó ngồi đâu thì chén đặt đó."
"Con ghi vậy, ông nghe lại coi."
Kình viết, đọc lên. Ông lão nghe, gật, mắt hơi đỏ, nhưng miệng vẫn mím. Đứng sau ông, cô gái cỡ mười tám, tóc thắt bím, tay vò vạt áo, chờ tới lượt. Khi ông lão xong, cô bước lên, ngồi xuống cái ghế nhỏ trước ván, đôi mắt đảo qua đảo lại như tìm lối thoát.
"Em muốn viết thư từ chối mai mối."
"Dạ, từ chối ai?"
"Ông Hai bên kia sông. Mà..." Cô cắn môi. "Em muốn viết sao cho ổng đọc xong vẫn còn hy vọng."
"Hy vọng?"
"Một chút xíu."
"Em từ chối mà muốn ổng còn hy vọng?"
"Em từ chối cái mai mối. Em không từ chối ổng."
Kình nhìn cô, nhìn cây bút, nhìn lên trời. "Dạ... em nói vậy khó viết lắm."
"Em biết."
Một bàn tay đặt xuống tấm ván, rất đúng lúc. Piên kéo ghế ngồi cạnh Kình, tay cầm cái gùi, mắt sáng lên như vừa được ai thưởng.
"Mà nè, để Piên giúp. Chỗ này cần chữ đệm cho êm."
"Chữ đệm gì?"
"Chữ như 'chẳng qua', 'chỉ là', 'tuy vậy'. Chữ đó làm cái từ chối nghe mềm."
"Muội không đồng ý," giọng Khuê vang lên.
Cô đứng sau lưng Piên, tóc búi gọn, áo nâu đã sạch. Cô ôm cặp giấy trước ngực, mặt nghiêm như tòa.
"Khuê không đồng ý cái gì?" Piên hỏi.
"Chữ đệm làm thể thức lỏng. Thư từ chối phải rõ: 'Tôi không thể nhận lời.' Chấm hết."
"Chấm hết thì ổng khóc."
"Ổng khóc là ổng hiểu."
"Cô này muốn ổng còn hy vọng mà."
"Hy vọng không phải việc của thể thức."
"Vậy là việc của ai?"
"Của người đọc."
Cô gái bím tóc ngó ba người, miệng há ra.
"Vậy là em nên viết sao?"
"Viết 'tôi chưa thể nhận lời'," Piên nói.
"Viết 'tôi không thể nhận lời'," Khuê nói.
"Viết 'tôi nghe nói', rồi 'nhưng'," Kình nói.
"Tại sao 'nghe nói'?" Khuê quay phắt qua.
"Vì nghe nói là chữ ít nhớ nhất. Nó không nói mình muốn, nó nói người ta nói."
"Muội cho là chữ 'chưa' ít nhớ nhất."
"Piên cho là chữ 'chỉ là'."
"Chữ nào cũng nhớ," Kình nói. "Chữ ít nhớ nhất là chữ không viết."
Cả ba im. Cô gái nhìn Kình.
"Vậy anh đừng viết gì hết hả?"
"Dạ không. Con nói bậy."
Piên phì cười. Khuê hắng giọng. Nhưng chính lúc đó, một cái bóng đứng chặn nắng bên cạnh tấm ván.
Thầy Đức đã đứng ở đó từ lúc nào. Ông khoanh tay trước ngực, sổ kẹp nách, áo chàm lốm đốm bụi chợ, mặt không biểu cảm. Ông nhìn tờ giấy trên ván, nhìn ba cái đầu đang cúi, nhìn cô gái bím tóc.
"Thư gì vậy?"
"Dạ, thư từ chối mai mối," Khuê nói. "Con đang soát thể thức."
"Còn các cô cậu?"
"Chữ đệm," Piên nói.
"Chữ ít nhớ," Kình nói.
Thầy Đức gật, nhìn tờ giấy thêm một chút, rồi nói bằng giọng bình thường, như đọc tên trong sổ.
"Viết thư tình mà đúng phép thì không ai đọc."
Cả bọn sững một nhịp.
Kình nhìn Piên. Piên nhìn Khuê. Khuê nhìn thầy Đức, miệng hơi mở, cây quản bút trong tay nghiêng đi. Bà Ba, ông lão, cô gái bím tóc, không ai nói gì. Tiếng chợ xa xa vọng lại, tiếng rao, tiếng khạp mắm gõ vào nhau.
"Thầy," Kình nói, giọng khàn đi. "Thầy vừa..."
"Tôi nói đúng phép."
Piên bật cười trước. Tiếng cười của cô vỡ ra, ròn, không giữ được. Rồi Kình cười, rồi cô gái bím tóc, rồi ông lão chống gậy phải vịn vai Khuê. Khuê cười cuối cùng, cười mà che miệng bằng tay áo, vai rung lên, tay kia vẫn cố ôm cặp giấy.
Thầy Đức đứng yên. Khóe miệng ông nhúc nhích một cái, chỉ một cái, rồi trở về chỗ cũ. Ông quay đi, bước tiếp, không ngoái lại.
Bà Tư Nhài ngồi nghỉ ở sạp thuốc cách ba bước, nhai trầu, nhìn cảnh đó. Bà ho một tràng ngắn, rút khăn che miệng, giữ lâu hơn cần. Kình nhìn sang.
"Ngoại?"
"Trầu cay."
"Ngoại ăn trầu mấy chục năm, trầu cay hồi nào?"
"Cay hôm nay."
Bà nhét khăn vô túi áo. Piên ngồi cạnh Kình, mắt vẫn nhìn bà, và nhìn lâu hơn Kình nhiều.
Kình kéo nửa tờ giấy thừa lại gần, chấm mực, viết một dòng. Thưa thầy. Ngoại con run tay, ho giấu trong khăn. Thầy chỉ con cách. Kình. Nó gấp nhỏ, đề ngoài Thầy Đường Tôn Khiêm, vườn thuốc Khoa Y, Sùng Văn Giám. Khuê liếc qua, không hỏi, đẩy cho nó cục sáp đỏ. Chiếc đò thư chiều còn buộc ở bến chợ, Kình chạy ra, bỏ lá thư vô cái giỏ tre của người lái rồi chạy về.
Ông lão còn đứng đó, cầm tờ giấy gấp tư, nhét vô ngực áo, rồi móc trong túi ra một xị rượu nhỏ, nút lá chuối, đặt lên ván.
"Công của con."
"Dạ, con không uống rượu."
"Vậy con cho ai thì cho."
Kình cầm xị rượu, đứng dậy, bước ba bước tới sạp bà Tư, đặt lên cạnh mẹt thuốc. Bà cầm lên, mở nút, đưa lên mũi ngửi, đậy lại. Bà đặt xị rượu cạnh cái gùi.
"Để dành cúng."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 35 →