Cái ống tre đựng hai tờ sắc nằm ngang trong lòng Kình, nó ôm chặt hơn ôm cái gáo dừa hồi đi xuồng.

Chợ Tri Tôn ngày không họp phiên vắng như cái sân chùa sau lễ. Dãy sạp trống trơn, ván kê gác lên nhau, vài con chó nằm dài trong bóng mát. Kình đi trước, thầy Đức đi giữa, Khuê đi sau cùng, áo nâu mượn đã được xắn ống tay, nhưng cô vẫn giữ lưng thẳng như đi dự lễ.

"Ở chợ này có sáu người khắc dấu," Kình nói. "Con biết hết."

"Cậu biết hết?" thầy Đức hỏi.

"Dạ. Hồi đi bán thuốc với ngoại con ghé hết rồi. Có người khắc cho người ta đóng tên, có người khắc dấu mộc cho hương chức."

"Vậy cậu dẫn."

Thợ thứ nhất ngồi ở sạp đầu chợ, râu dài, đeo cái kính mắt tròn, trước mặt bày một hàng con dấu gỗ xếp như hàng quân. Ông nhìn thầy Đức, nhìn áo chàm, rồi nhìn cái ống tre trong tay Kình.

"Cái gì đó?"

"Dạ, thầy con muốn nhờ ông coi dấu."

"Dấu gì?"

Thầy Đức rút một tờ sắc, mở ra. Ông thợ nheo mắt, ghé sát, hít một hơi.

"Gỗ trắc," ông nói, chắc như đóng đinh. "Khắc bằng gỗ trắc, tay thợ cỡ tôi. Tôi coi dấu hai chục năm."

Hai ngón tay trái thầy Đức gõ xuống đùi, hai cái.

"Ông có chắc không?" Khuê hỏi.

"Cô con quan này nói chuyện lạ à. Tôi nói là chắc."

"Muội nói chuyện bình thường."

"Cô nói chuyện như cái tờ này," ông thợ chỉ tờ sắc. "Có ấn."

Kình phải cắn môi để không cười. Nó quay qua nói với ông thợ bằng giọng chợ.

"Dạ chú, ý cô là cô muốn hỏi sơ qua thôi. Chú coi kỹ giùm nghen. Dấu trên giấy này rất đẹp, có thợ nào ở đây khắc được không?"

"Khắc được thì tôi khắc rồi."

"Vậy chú khắc nổi không?"

"Khắc nổi thì tôi ăn cơm sướng rồi, ngồi đây chi."

Thầy Đức ghi vào sổ. Ông không nói gì thêm, chỉ cúi đầu cảm ơn đúng phép, rồi dẫn cả bọn đi. Tới đầu dãy, ông hỏi nhỏ.

"Cậu nói với ông ấy khác lời tôi."

"Dạ, con nói tiếng chợ. Thầy nói tiếng Giám, ổng nghe là ổng cứng họng."

"Tôi nói tiếng Giám?"

"Dạ, thầy hỏi ai cũng như hỏi cung."

"Tôi hỏi bình thường."

"Bình thường ở Giám," Khuê nói, cùng lúc Kình nói. Hai đứa nhìn nhau, cùng quay đi.

Thầy Đức không phản đối. Ông ghi thêm một dòng vô sổ, và Kình không dám hỏi dòng đó viết gì.

Thợ thứ hai ở cuối dãy, một ông già lưng còng, chỉ khắc con dấu gỗ cho hương chức cấp làng. Ông nghe Kình giới thiệu, đứng lên, nhìn tờ sắc trên tay thầy Đức một cái, rồi lắc đầu quầy quậy.

"Ấn phẩm Hội hả. Đồ của Giám tui không dám coi."

"Ông không cần khắc. Chỉ cần coi," thầy Đức nói.

"Coi cũng không. Coi rồi lỡ mai có người hỏi tui đã coi cái gì."

"Ai hỏi?"

"Ai cũng hỏi." Ông cúi xuống sạp, quay lưng. "Cô con quan đó, ngồi chỗ khác dùm."

Khuê đứng yên giữa lối đi, mặt hơi đỏ.

"Muội ngồi chỗ nào?"

"Cô đứng đó thì tui đứng đây."

Kình bước lên, nói nhỏ với ông già. "Chú, cô này không phải con quan. Cô là người học chung với con."

"Học chung?"

"Dạ, chung phòng. Phòng con ngủ hơi ồn."

"Ồn?"

"Cộc... cái người ngủ cùng con ngáy to."

Ông già nhìn Kình một lúc, cười khục khục, ho. "Ờ. Thôi, các con đi đi."

Tới sạp bán chè, bà chủ gọi Khuê là "cô con quan" lần thứ ba, dù cô chưa nói câu nào. Bà múc cho cô nhiều đậu hơn ba người còn lại. Khuê nhận chén chè, giữ bằng hai tay, nhìn nó rất lâu, rồi nhỏ giọng hỏi Kình.

"Muội có điều gì khiến họ nhìn ra không?"

"Khuê đi thẳng quá."

"Muội đi bình thường."

"Bình thường ở Giám thôi. Ở đây ai đi như cây cột là con quan."

"Muội sẽ đi cong."

"Đi cong kỳ hơn."

Khuê húp một muỗng chè, nhăn mặt vì ngọt, rồi gật. "Chè này ngon."

"Ngon mới đúng. Bà nấu hai chục năm."

"Muội cũng nghĩ vậy."

"Con quan ăn có đủ ngọt không?" bà bán chè hỏi với theo.

"Dạ đủ," Khuê đáp, rồi quay qua Kình, thì thầm. "Muội đã nói gì sai?"

"Khuê không nói gì hết. Họ gọi từ nãy giờ."

"Muội sẽ nói ít hơn nữa."

"Nói ít nữa là Khuê hết nói luôn."

Có tiếng gọi khẽ sau lưng. Kình quay lại. Bà Ba Khô, bà bán tôm khô sạp kế sạp ngoại, đứng cạnh cột sạp, rổ tôm đội trên đầu, tay kia kéo tay áo nó.

"Thằng Kình."

"Bà Ba!"

"Nói nhỏ thôi. Con đang đi tìm người khắc dấu hả?"

"Sao bà biết?"

"Cả chợ biết rồi." Bà hạ rổ xuống, nhìn thầy Đức một cái rồi nhìn lại Kình. "Đi qua thợ khắc nào chưa?"

"Hai người rồi. Họ nói không biết."

"Họ nói thiệt. Họ không biết." Bà kéo nó lại gần hơn, mùi tôm khô ngai ngái. "Muốn biết thì hỏi ông Năm Được."

"Ông Năm Được là ai?"

"Ở sau dãy khạp mắm. Ông già lắm, ông sống một mình. Ông mất một đốt ngón cái bên phải." Bà đưa tay ngang mắt, chặt một cái. "Mà khắc còn hơn người đủ mười ngón."

"Sao bà biết?"

"Con dấu nhà tui ông khắc. Ba chục năm không mòn."

Thầy Đức đã bước tới, nghe hết, ông cúi đầu chào bà Ba, đúng phép tới mức bà Ba hơi luống cuống.

Dãy khạp mắm nằm ở cuối chợ, mùi mắm nồng tới rát mũi. Hết dãy khạp là một cái chái lá nhỏ, lợp thấp, cửa quay ra rạch. Từ trong chái có tiếng đục, cộc cộc, cộc cộc, đều như nhịp tim.

Ông già ngồi quay lưng ra cửa, vai gù, tóc bạc rối. Tiếng đục không ngừng khi cả bọn tới. Bàn tay phải cầm cái đục, nhỏ, gân nổi, ngón cái cụt một đốt.

Hết Chương 26
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 27 →
← TrướcTiếp →