Thầy Đức bắc cái ghế mượn của nhà việc dưới chân cột rồi trèo lên, rút con dao nhỏ khỏi bao, lách mũi dao vô góc tờ giấy đỏ như người ta bóc lá chuối khỏi cái bánh.
"Cậu giữ ghế."
"Dạ." Kình ôm hai chân ghế, ngước lên. "Thầy bóc chậm vậy, giấy rách thì sao?"
"Rách thì mất tang vật. Mất tang vật thì tôi ghi vào sổ là mất, và tôi không muốn ghi."
"Thầy ơi." Ông Cả Khương đứng trên bờ, hai tay nắm chặt cuốn sổ. "Giấy đó là của trời dán hả thầy?"
"Giấy của người."
"Người nào?"
"Tôi không rõ. Ông có rõ không?"
"Tui mà biết thì tui đã nói."
"Vậy tôi ghi là ông không biết."
Ông Cả mở miệng định cãi, rồi thôi. Dân ấp đứng ngoài bến cách ba sải, không ai dám lại gần. Tờ giấy rời khỏi cột từng góc, từng góc, kêu nhẹ như tiếng da khô tách khỏi vỏ. Thầy Đức cầm nó xuống, đưa cho Khuê, rồi trèo sang cột bên kia.
Khuê trải tờ giấy lên cặp giấy của cô, ngả dưới nắng. Giấy dó nền đỏ, mờ mờ hoa văn rồng mây. Cô đọc thành tiếng, chậm, rõ từng chữ, giọng như đang đọc trước quan.
"Thái Ninh năm thứ mười sáu, tháng Chín, Thiên Tào phụng chỉ. Sắc cho thần giữ cầu ván ấp Dừa Sẹo, thừa hành việc lệ, y lệ mà thi hành, trái lệnh luận theo luật gọi chui." Cô ngừng. "Thể thức đủ, từng vế đúng chỗ. Niên hiệu đúng. Không phạm húy, không sót chữ. Ấn son đóng đè lên chữ tháng, đúng vị trí."
"Vậy là đúng," Kình nói.
"Đúng." Khuê nhìn tờ giấy, giọng khô lại. "Lại một tờ đúng y như vậy."
Kình ngước lên. Khuê đã im, mím môi, như vừa lỡ làm rớt cái chén. Chữ "lại" nằm lại giữa hai đứa, nhỏ xíu mà nặng như hòn đá cuội chặn thư. Nó ngó Khuê. Khuê ngó xuống tờ giấy, hai mắt không chớp. Nó định mở miệng, nhưng thầy Đức đã xuống ghế, tay cầm tờ thứ hai.
"Cô nói lại?"
"Con nói lỡ lời, thưa thầy."
"Tôi nghe được rồi." Thầy Đức không hỏi thêm. Ông tháo cái ấn nhỏ bằng đồng bên hông, hà hơi, đóng một dấu lên mảnh giấy nháp, rồi đặt cạnh tờ sắc. "Cô coi."
Hai dấu son nằm cạnh nhau. Dấu của thầy có một góc mẻ, nét bên trái đậm hơn nét bên phải, vì tay ông quen ấn lệch. Dấu trên sắc thì tròn, đều, từng sợi chữ nằm đúng chỗ, sạch tới mức nhìn lâu thấy rợn.
"Dấu thầy xấu hơn," Kình nói.
"Cậu nói thẳng quá."
"Dạ, thầy hỏi con thấy gì."
"Tôi chưa hỏi."
"Dạ, con nói trước."
Khuê khẽ cười một nửa, rồi tắt. "Thầy, thể thức mà viết như vầy, không ai viết nổi ngoài người trong Giám."
"Đúng quá. Không ai viết đúng thế này, trừ Giám." Thầy Đức nhìn hai dấu. "Mà Giám không cần sắc phẩm Hội cho một thần giữ cầu."
"Dùng búa tạ đóng cây đinh ghim," Khuê nói. "Phẩm Hội điều được thần giữ cầu, không trái luật. Chỉ thừa. Con đọc thấy vô lý. Nhưng thần ở đây không soi ra."
"Luật nói thần soi dấu giả tức khắc." Ông gõ nhẹ mép ghế. "Thần không soi ra có hai khả năng. Hoặc dấu này thật. Hoặc là dấu gì tôi chưa thấy bao giờ."
"Thầy nghĩ cái nào?"
"Tôi nghĩ tôi cần ghi vào sổ."
"Ghi gì mà ghi hoài vậy thầy?" Kình hỏi.
"Ghi cái mình thấy. Cái mình đoán thì để trong đầu, đầu không có sổ."
Ông đi lên bờ. Kình ngoái lại, thấy Piên không đứng cạnh nó nữa. Cô ngồi xổm ở mép nước dưới gầm cầu, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhắm. Nước chạm vô mũi chân cô, không gợn.
"Piên?"
"Suỵt."
Kình lội xuống, đứng bên cô. Nước mát ở trên, lạnh ở dưới, mùi bùn đặc. Piên mở mắt từ từ.
"Có tiếng," cô nói nhỏ. "Ở dưới cái cột đó."
"Tiếng gì?"
"Ư ử." Piên nghiêng đầu. "Như người ta bị trói mà vẫn phải gật đầu. Không phải tiếng giận."
"Không giận?"
"Không. Nó mệt." Piên khép tay lên ngực. "Nó muốn nói mà nó không nói được."
Kình nhìn cột tràm giữa dòng. Bùn bám tới nửa thân, rêu xanh phủ. Nó lội thêm ba bước, nước lên ngang gối, rồi tới bắp đùi. Nó đưa tay ra, miệng đã hé.
Một bàn tay nắm tay áo nó kéo lại.
Khuê đứng sau lưng, giày ướt tới mắt cá, áo nâu dính bùn. Cô không nhìn nó, cô nhìn thầy Đức trên bờ.
"Huynh," giọng cô rất khẽ. "Huynh làm ở đây, trước mặt thầy và cả ấp, vụ này thành của huynh."
"Tui chỉ..."
"Muội biết huynh chỉ muốn hỏi nó một câu." Khuê siết tay áo mạnh hơn. "Cả ấp sẽ chỉ thấy huynh nói chuyện với cột cầu."
Kình đứng im. Nước chảy qua đầu gối, chậm. Trên bờ, dân ấp đang nhìn về phía hai đứa, không ai nhúc nhích. Cái nhìn của họ không dữ, chỉ lạ, giống người ta nhìn con trâu lạ dắt vô chuồng nhà mình.
Nó rút tay về.
Từ trong túi áo, nó lấy ra miếng trầu têm sẵn bà ngoại dúi cho hồi sáng. Nó lội lui hai bước tới mép đá, đặt miếng trầu lên bậc đá chân cột. Không nói câu nào.
Piên mở miệng định nói, rồi khép lại. Khuê buông tay áo nó ra.
Ba đứa lên bờ. Thầy Đức đã ngồi trên cái ghế đẩu của nhà việc, sổ tuần vùng mở trên đầu gối, ngòi bút đang chạy. Kình đứng đối diện, cách một bước, nhìn xuống trang giấy.
Chữ thầy Đức nhỏ, ngay, nghiêng đều. Kình đọc ngược từng chữ, chậm, như đánh vần trong miệng.
Nó đọc tới dòng thứ năm thì ngừng.
Kình, cháu bà Tư Nhài, ấp Vàm Tre, có mặt tại hiện trường.
Ngòi bút của thầy Đức chạy qua chữ "trường", chấm dứt dòng bằng một dấu chấm gọn.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 24 →