Ông Sáu Lợi giật cái túi đồ khỏi vai Kình, quăng lên vai mình, quay lưng đi trước.

"Ông, để con xách."

"Mày xách thì đi tới tối. Đi lẹ."

Từ trong túi vọng ra một tiếng càu nhàu khàn khàn, nhỏ tới mức chỉ Kình nghe. Ông Sáu xốc túi lên lần nữa.

"Mày nhét cái gì trong này mà nặng như cục đá vậy?"

"Dạ, sách. Với đồ ăn."

"Đi một năm, về vác sách." Ông khịt mũi. "Hồi đi có cái bọc vải, nhẹ hều."

Bờ đất từ bến lên ấp vừa lọt một người, nước ngập sát hai bên mép. Ông Sáu đi trước, dép lẹp xẹp, miệng không ngớt: nước năm nay lại lên trễ, cá linh năm nay nhỏ con, thằng Tửng lợp lại nhà mà chưa trả tiền lá. Cả năm ở Giám, Kình không nghe ai càm ràm đúng giọng miệt dưới như vầy.

"Tao ra bến bốn bữa rồi đó," ông nói. "Giấy Giám gửi về nói trước rằm. Trước rằm là bữa nào, ai biết."

"Con cảm ơn ông."

"Cảm ơn cái gì. Tao ra coi ghe hàng."

Kình móc túi áo, lấy ra hai tiền với một nắm đồng lẻ, phần còn lại của quan tiền thưởng sau khi mua mỡ heo với bốn chén chè, với mấy bữa cơm dọc đường. Nó chìa ra trước mặt ông.

"Ông Sáu. Con gửi ông chút lời. Ông cho con khất cả năm."

Ông Sáu không ngó. Ông đưa tay ra sau lưng, đẩy tay nó ngược về.

"Gạch xong rồi, đừng đòi tao nữa."

"Thì con trả lời, chớ đâu phải trả nợ."

"Tao cho khất, tao đâu có cho vay lời. Mày đưa nữa tao quăng xuống ruộng cho cá linh nó ăn."

"Cá linh đâu có ăn tiền."

"Thì nó chết. Tội mày."

Ông dừng lại, rút cuốn sổ bìa đen dưới nách ra, lật một hồi, chìa trang giấy trước mặt nó.

"Biết chữ rồi thì đọc đi. Đọc coi tao gạch chưa."

Chữ ông Sáu nguệch ngoạc, nghiêng như hàng rào bị gió xô. Bà Tư Nhài, ba quan, mùng mười tháng Chín. Con số ba bị sửa thành một. Một đường mực ngang qua cả dòng, đè lên cái gạch dài ông gạch dưới chót hồi đó. Bên cạnh, mực mới hơn, đậm hơn: Thằng Kình trả đủ.

Hồi đó Kình đứng trước quầy, ngó dòng này như ngó một bầy kiến. Giờ bầy kiến đứng yên cho nó đọc.

"Đọc được không?"

"Được."

"Ghi gì?"

"Thằng Kình trả đủ."

"Ừ. Vậy đó." Ông gập sổ, kẹp lại vô nách. "Sổ tao ba chục năm mới có một chữ đủ."

Đi được một quãng, ông nói, không quay lại.

"Thư mày gửi, tao đọc cho bả nghe ba lần."

"Ba lần?"

"Lần đầu bả nghe xong không nói gì. Lần hai bả biểu đọc lại khúc một quan." Ông ngừng một chút. "Lần ba bả bắt đọc chậm cái khúc mày viết má mày hát."

Kình bước chậm lại. "Rồi ông đọc sao?"

"Đọc chậm. Từng chữ. Bả ngồi nhắm mắt."

"Rồi ngoại nói gì?"

"Không nói gì. Bả đứng dậy đi bắc nồi cơm." Ông xốc cái túi. "Cái khúc má mày hát ghi chữ gì, giờ tao quên rồi. Mà chữ mày xấu quá. Chữ gì ngoằn ngoèo như con lươn mắc câu."

"Thầy con khen coi được đó ông."

"Thầy mày khen là thầy mày tốt bụng."

Có tiếng chân phía sau. Thầy Đức buộc xuồng xong, xách túi vải đi theo.

"Ông Sáu," thầy nói. "Trong ấp có chỗ nào cho tôi trọ không?"

Ông Sáu ngoái lại, ngó cái áo chàm từ trên xuống dưới. Mặt ông sầm như trời sắp mưa.

"Ấp này không có quán trọ. Ai về thì về nhà nấy."

"Giám trả tiền trọ. Tính theo tháng."

Ông Sáu đứng khựng một nhịp.

"À." Ông chùi tay vô vạt áo. "Gian sau tiệm tôi bỏ trống. Có bộ ván, có mùng. Thầy ở bao lâu cũng được, thầy."

Kình cắn môi cho khỏi bật cười. Trong túi đồ trên vai ông Sáu, có tiếng khục khặc như ai mắc nghẹn.

Nhà bà ngoại nằm cuối xóm, sau một hàng giậu tre. Mái lá đã thay một nửa, nửa mới vàng, nửa cũ xám. Bà Tư Nhài ngồi trên bậc cửa.

Thấy người, bà chống một tay lên bậc, đứng dậy. Bà đứng dậy làm hai nhịp, nhịp đầu chỉ được nửa người.

Kình đứng sững ở cửa giậu. Cả năm trời, nó mang theo trong đầu một bà ngoại có hai bả vai ngang như đòn gánh. Người đứng trên bậc cửa kia chỉ còn hai cái gờ xương nhô dưới lớp áo bà ba.

Ông Sáu thả cái túi xuống chân giậu. "Giao rồi nghen bà Tư." Rồi ông quay lưng, dẫn thầy Đức về phía tiệm.

Thầy Đức đứng lại ngoài giậu thêm một nhịp, cúi đầu chào. Bà Tư Nhài gật lại. Không ai nói câu nào.

"Ngoại."

Bà nắm lấy tay nó. Bàn tay gầy, khô, nóng hơn nó nhớ.

"Lớn rồi."

"Con cao hơn ngoại rồi nè."

"Ừ. Cao mà ốm."

"Ngoại mới ốm."

Bà không trả lời. Miệng bà nhai trầu, đều đều. Bà ho một tiếng khan, rồi nhai mạnh hơn, quay qua nhổ bã vô cái ống nhổ sành. Cái túi dưới chân giậu nhúc nhích, một nhúm lông nâu xám lủi ra, chạy biến về phía chái sau.

Trong bếp, nồi đất trên cà ràng đang sắc, hơi bốc lên đắng nghét. Một cái muỗng cán gỗ vắt ngang miệng nồi, sứt một góc miệng, chỗ sứt đã mòn trơn.

"Ngoại sắc thuốc cho ai vậy?"

"Cho người ta." Bà cầm cái muỗng khuấy hai vòng, đậy nắp lại.

Bữa cơm dọn ra trên tấm ván giữa nhà. Canh cá linh nấu bông điên điển, chua nhẹ, ngọt, mùi bông vàng hơi hăng bốc lên theo hơi nóng. Ở Giám có cá kho. Không có cái mùi này. Kình ăn hết ba chén mới ngẩng lên.

"Ngoại."

"Hử."

"Con viết má hát vậy. Ngoại có nhớ không?"

Bà gắp một con cá linh, bỏ vô chén nó.

"Ăn cơm đi con."

Kình ăn hai miếng. Rồi nó để đũa xuống.

"Ngoại nhớ không?"

Bà gắp thêm một đũa bông điên điển, bỏ lên con cá.

"Ăn cơm đi con."

Kình ngó lên bàn thờ. Lá thư của nó nằm đó, gấp làm tư, kê dưới chân lư hương, mép giấy đã ngả màu khói nhang.

"Ngoại cho con coi lại cái thư được không?"

"Thư gửi ngoại là của ngoại."

Bà nói câu đó không lớn, không nhỏ, y như hồi bà nói "dọn gánh". Kình cúi xuống ăn tiếp.

Đêm đó nó ngủ trên bộ ván ở chái sau, chỗ cũ. Cộc nằm đâu đó trong bóng tối, không lên tiếng.

Canh ba, Kình thức dậy đi tiểu. Nó rón rén đi ngang gian bếp.

Bếp đã tắt từ lâu, nồi thuốc đã nhấc xuống. Bà Tư Nhài ngồi một mình bên đống tro, lưng còng xuống, hai tay ôm đầu gối. Miệng bà vẫn nhai, đều đều.

Không ai nhai trầu lúc canh ba.

Hết Chương 2
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 3 →
← TrướcTiếp →