Cái gáo dừa cạ xuống lòng xuồng nghe rột một tiếng, múc lên được nửa gáo nước đục.
Kình hắt ra mạn trái. Nước lại rỉ vô từ khe ván dưới chân, chậm rãi, như nó có nhiều thì giờ hơn người. Từ bến ghe đò tới giờ, nó tát cả trăm gáo rồi. Chiếc xuồng ba lá vẫn lừ đừ như con trâu mới ăn no.
"Tát lẹ lên nhóc. Chìm bây giờ."
"Chìm thì mày lội."
"Tao một tay, lội sao nổi." Cộc ngồi chồm hổm trên mũi xuồng, bàn tay duy nhất buông thõng xuống mặt nước. "Mà khoan. Khoan nghen. Có cá."
Một con cá linh nhỏ bằng ngón tay nhảy lên khỏi nước, vảy bạc lóe một cái. Cộc chụp. Bàn tay lông nâu xám vồ trúng khoảng không, cả cái thân nhỏ xíu lộn cổ theo, rớt cái tõm.
Kình buông gáo, thò tay xuống nắm túm lông sau gáy Cộc, kéo lên. Nước chảy ròng ròng từ bộ lông xẹp lép. Cộc nhổ ra một cọng lúa.
"Cá miệt này láu quá," Cộc nói, giọng vẫn khàn mà ướt nhẹp. "Hồi xưa đâu có láu vậy."
"Hồi xưa mày chụp trúng hả?"
"Hồi xưa tao đẹp trai. Cá nó nể."
Kình phì cười. Cộc ngồi vắt cái đuôi, lưng quay về phía nó.
Từ đêm trăng mười bốn coi bảng tới giờ, trăng đã khuyết hết một vòng rồi lại gần tròn. Mấy chặng ghe đổi ghe, đêm nào Cộc cũng ngủ quay mặt vô mui, lưng ra ngoài. Kình thấy, mà không hỏi.
Hai bên xuồng, lúa cao quá đầu người. Nước lên tới đâu lúa vươn tới đó, ngọn lúa ngả cả về một phía theo dòng. Mái chèo phía sau lùa vô thân lúa, nghe sột soạt như ai lật một xấp giấy khô. Dọc mé bờ ngập, bông điên điển vàng rực từng chùm.
Người cầm chèo ngồi ở đuôi xuồng. Áo dài vải chàm bạc thếch, túi vải kê dưới chân cho khỏi ướt. Ông chèo một mái, nhịp đều, không văng một giọt nước lên khoang.
Kình ngoái lại ngó ông lần thứ ba.
"Người Giám mà chèo xuồng được hả ông?"
"Tôi người dưới này."
"Dưới này là dưới đâu?"
"Dưới này." Ông hất cằm về phía đồng nước, như vậy là đủ.
Một con muỗi đậu lên cánh tay trái của Kình. Bàn tay Cộc vụt tới, đập cái bép ngay cạnh vết sẹo.
"Muỗi."
"Muỗi gì mà theo tao từ ngoài Thăng Long về tới đây."
"Muỗi trung thành." Cộc chùi tay vô lông bụng. "Mày coi lại cái giấy đi. Ướt hết bây giờ."
Kình móc trong ngực áo ra tờ giấy gấp tư bọc lá chuối khô, mở ra trên đầu gối. Cả quãng đường nó đã đọc tờ này không biết mấy lần, môi mấp máy theo từng chữ. Không phải vì khó. Vì đây là lần đầu trong đời nó cầm một tờ giấy nói về chính nó mà tự đọc được.
Sĩ tử lớp dự bị tên Kình, quán Thất Sơn, đỗ Hương khoa này. Chuẩn cho về quê thăm nhà, hạn đến khi có lệnh gọi.
Cuối tờ, dưới con dấu đỏ, còn một dòng chữ son nhỏ hơn, nét nghiêng, khác hẳn nét người viết mấy dòng trên.
Có người đi cùng quản lý.
"Ông ơi." Kình giơ tờ giấy lên. "Chỗ chữ son này. Người đi cùng là ai vậy?"
Ông không ngừng chèo. Tay trái rời cán chèo một nhịp, chỉ vào ngực áo mình, rồi nắm lại.
"Ông hả?"
"Tôi."
"Quản lý là quản cái gì?"
"Quản cậu."
"Con có gì đâu mà quản. Về nhà thì con phụ ngoại bán thuốc, ăn cơm, ngủ."
"Thì tôi quản cậu ăn cơm, ngủ."
"Quản luôn tao đi," Cộc nói. "Tao ăn nhiều hơn nó."
"Cái đó không có trong giấy."
Cộc ngó ông, ngó tờ giấy, rồi quay qua Kình. "Thấy chưa. Ở đâu cũng vậy. Không có tên trong giấy là khỏi ăn."
Kình gấp tờ giấy, nhét lại vô ngực áo. Hơn một năm trước, người này dắt nó ra khỏi ấp, đổi ghe này qua ghe khác. Hồi đó ông xưng ta, kêu nó là con. Từ bữa yết bảng, ông đổi qua xưng tôi, kêu cậu, giọng y như lúc nói với mấy ông thầy trong Giám. Lần đầu nghe, Kình ngó quanh coi ông kêu ai. Trong đầu nó, ông vẫn chỉ là ông thầy bùa.
"Mà ông tên gì vậy?"
Ông chèo thêm ba nhịp nữa mới trả lời.
"Lâm Thế Đức."
"Lâm Thế Đức," Kình lặp lại, như đang tập viết trong miệng. Chữ Đức nó biết, thầy Khiêm dạy rồi, bộ xích đứng bên trái.
"Năm ngoái cậu đi với tôi gần tháng trời, không hỏi."
"Hồi đó con đâu dám hỏi."
"Giờ dám?"
"Dám chớ."
Hai ngón tay trái ông đặt trên đùi gõ xuống hai cái. Kình thấy, tưởng ông đếm nhịp chèo. Rồi con cá linh thứ hai nhảy qua mũi xuồng, Cộc lại chồm ra, và nó bận chụp đuôi Cộc.
"Vậy từ giờ con kêu thầy Đức nghen," nó nói, khi đã nhét được Cộc về chỗ cũ. "Kêu ông hoài nghe như kêu ông Sáu bán tạp hóa."
"Kêu sao cũng được." Thầy Đức đổi tay chèo. "Mà đúng phép thì kêu thầy."
Lúa thưa dần. Xuồng trổ ra một khoảng nước trống, và núi Dài hiện ra trước mũi xuồng. Đá xám nằm dài giữa đồng nước như một hòn đảo.
Kình đứng bật dậy. Xuồng chòng chành.
"Ngồi xuống."
"Đó, đó thầy!" Nó ngồi xuống, mà tay vẫn chỉ. "Gốc me đầu xóm đó. Hồi nhỏ con leo hái me, té gãy tay. Ngoại bó tay cho con bằng mo cau."
"Ừ."
"Cái miễu mái ngói rêu kia nữa. Năm nào nước cũng lên tới bậc thứ ba là thôi, chưa lần nào ngập tới bàn thờ, à nghen."
"Ừ."
"Còn cái chái lợp lá mới là nhà thằng Tửng. Hồi con đi nó dột như cái rổ, mưa xuống cả nhà nó ôm nồi chạy qua nhà con."
Thầy Đức chèo thêm mấy nhịp. "Cậu nói nhiều hơn hồi đi gấp ba."
"Hồi đi con buồn." Kình gãi đầu. "Giờ con về."
"Gấp ba là còn ít đó thầy," Cộc chen vô. "Ở Giám nó nói mớ còn nhiều hơn vầy."
"Mày nói xạo."
"Tao xạo hồi nào. Mày nói mớ chữ mẫu, chữ mẫu, chữ mẫu, ba lần."
Kình mở miệng định cãi, rồi ngậm lại. Thôi kệ.
Xuồng lách qua hàng tràm, rẽ vô con rạch dẫn lên bến. Mùi khói bếp bay ra từ sau rặng dừa, lẫn mùi cá kho. Kình ngồi thẳng lưng, hai tay nắm hai mép xuồng, ngó chằm chằm cái cầu ván đầu bến.
Nó tìm một cái dáng gầy, tóc búi sau ót, đứng chống tay vô cột cầu.
Xuồng cập bến ấp Vàm Tre lúc mặt trời vừa xế khỏi ngọn dừa. Mũi xuồng chạm cọc cầu, kêu cộc một tiếng.
Trên bến không có bà ngoại.
Chỉ có ông Sáu Lợi đứng một mình đầu cầu ván, cuốn sổ bìa đen kẹp dưới nách.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →