Khuê đập xuống cổ tay trái, chỗ con muỗi thứ mười bảy vừa đậu, rồi đếm thành tiếng.
"Mười bảy."
"Cô đếm làm chi?" Chú Tám ngồi ở đuôi xuồng, chèo một mái, đều đặn, chiếc nón lá che gần hết nửa mặt. "Muỗi miệt này đếm không xuể."
"Cháu ghi nhận để có số liệu."
"Số liệu để làm gì?"
"Để biết miệt này có bao nhiêu muỗi."
"Cô hỏi tôi đi. Tôi nói liền. Nhiều."
Khuê nhìn cổ tay. Chỗ bị đốt đã sưng lên một cục đỏ, ngứa chạy thẳng lên tận khuỷu. Chiếc xuồng thư của Giám dài và hẹp, giữa khoang chất đầy túi thư buộc dây gai, mùi giấy ẩm lẫn mùi rong nước. Cô ngồi trên một cái ván ngang, hai chân co sát, áo lụa xanh rêu đã dính bùn từ lúc nhảy xuống chặng đầu.
Cô đổi tư thế, vịn tay vô mạn xuồng. Chiếc xuồng nghiêng hẳn sang một bên.
"Cô! Đừng vịn mạn!"
"Cháu tưởng vịn mạn để giữ thăng bằng."
"Vịn mạn là nghiêng mạn. Ngồi giữa, hai tay để đùi."
"Hai tay để đùi?"
"Như đang coi hát."
Khuê ngồi giữa, hai tay để đùi. Xuồng chao một cái, rồi yên. Cô thở ra, hơi nóng của chính mình phả lại trên mặt.
"Cô lần đầu đi xuồng hả?"
"Cháu từng đi thuyền dạo nhiều lần ở Thăng Long."
"Thuyền dạo không phải xuồng."
"Về thuật ngữ, đúng. Về nguyên lý nổi trên mặt nước, cả hai có nhiều điểm tương đồng."
Chú Tám ngừng chèo. Cái nón lá nghiêng nghiêng. Chú nhìn cô một hồi, môi giần giật.
"Tương... đồng..." chú nói.
"Dạ."
"Nguyên... lý..."
Chú bật cười. Cười rộ, ngửa cổ, cười tới nỗi tay buông mái chèo. Mái chèo rơi tõm xuống nước, trôi dập dờn ra xa. Chú Tám ôm bụng, nước mắt chảy dài, cười không thở ra hơi.
"Chú Tám!"
"Cô... con nhà quan... đi miệt dưới..." Chú gập người. "Nguyên lý nổi... tui sống năm chục năm, chưa ai nói với tui nguyên lý nổi!"
"Chú vớt mái chèo đi."
"Dạ, dạ." Chú lau mặt, lấy cây sào dài móc mái chèo kéo lại, vẫn còn run vai. "Cô hai ơi, cô ở miệt trên, có ai nói chuyện giống cô hông?"
"Nhiều người."
"Vậy miệt trên chắc vui lắm."
"Không vui lắm. Thường nghiêm."
"Vậy thì tui thương mấy ông miệt trên." Chú Tám cắm mái chèo xuống nước. "Đi lẹ lẹ, tới chiều là cập ấp."
Khuê quay mặt đi, nhìn đồng nước. Lúa cao quá đầu người, ngả theo dòng. Đâu đó bên trái, một đàn cò trắng bay lên khỏi mặt ruộng, cánh vỗ rào rào. Cô nhìn theo cho tới khi cái hàng cò khuất sau đường chân trời, rồi mới thò tay vô tay áo.
Hai tờ giấy nằm ép sát cổ tay. Cô rút tờ thứ nhất.
Giấy dày, mép cắt vuông, góc dưới đóng ấn đỏ hình vuông của Học chính. Chữ cha cô viết gọn, nét thẳng, không có chỗ nào run, không như chữ cô.
Phụng lệnh Học chính: kiểm tra việc sắc lạ vừa xuất hiện tại các ấp miền Tây. Phối hợp thầy bùa tuần vùng. Thể thức thực hiện theo lệ thường.
Cô đọc ba lần, thuộc từng chữ, rồi gấp lại, nhét về chỗ cũ.
Tờ thứ hai gấp riêng, không ấn. Cô mở ra chậm.
Mỗi tuần một lá thư thăm nhà. Chép rõ sĩ tử Kình đi đâu, gặp ai, nói gì.
Chỉ có vậy. Hai dòng. Không ấn, không tên, không ngày.
Tay Khuê run. Chữ trên giấy như nhảy lên nhảy xuống theo từng nhịp tay, mực đen lẫn vô sương xám trong mắt. Cô xếp tờ giấy làm đôi, làm tư, làm tám, gấp nhỏ tới mức không thể gấp thêm nữa, rồi nhét sâu vô tay áo, sát tận khuỷu, chỗ vải dày nhất.
"Cô hai."
"Dạ?"
"Cô đọc thư cha hả?"
"Dạ."
"Cha cô thương cô."
"Tại sao chú nói vậy?"
"Cha nào gởi con đi xa mà không thương con?" Chú Tám ngoái đầu lại. "Mà cô cứ cầm cái tờ giấy như cầm rắn."
Khuê im.
"Thôi," chú nói, quay đi. "Tui nói bậy."
Cô nhìn mặt nước. Con cá nào đó quẫy dưới xuồng, tạo ra một vòng sóng nhỏ.
"Chú Tám."
"Dạ?"
"Dọc đường chú nghe tin gì không? Về các ấp phía dưới?"
Chú Tám đổi tay chèo. "Nghe." Giọng chú trầm xuống. "Ở bến, người ta kháo nhau mấy ấp dưới có chuyện lạ. Nghe nói có người thấy sắc dán ở chỗ không có đình."
"Sắc dán ở chỗ không có đình?"
"Dạ."
"Ai thấy?"
"Nghe người ta nói."
"Người nào nói?"
"Mấy người ở bến."
"Bến nào? Ấp nào?"
Chú nhún vai. "Cô hai, nghe người ta nói, là nghe người ta nói. Tui đưa thư mười năm, thư thì có tên có địa chỉ, chuyện thì không."
Khuê khép môi. Cô không ghi vô sổ, vì sổ nằm trong rương dưới ván, nhưng từng chữ chú vừa nói, cô đã xếp ngay ngắn trong đầu theo thứ tự nghe được, như xếp một hàng mỹ tự lên bảng. Sắc. Dán. Chỗ không có đình. Nghe người ta nói. Cô nghĩ tới tờ giấy kẹp cuối hồ sơ cha giao, rồi bắt mình thôi nghĩ.
Xuồng trôi qua một cái cầu bắc ngang rạch, rồi một xóm nhỏ dựng nhà sàn thấp lè tè, chó sủa vang hai bờ. Mặt trời lặn dần phía sau lưng. Con muỗi thứ mười tám đậu lên gáy cô. Cô đập.
"Mười tám."
"Cô còn đếm."
"Dạ."
"Vậy chớ."
Chiều sẫm lại, xuồng rẽ vô một con rạch hẹp, hai bên dừa nước um tùm. Mùi bùn nồng, tiếng ếch dậy lên. Rồi hàng dừa mở ra, một cái bến lộ dần. Bờ đất, cầu ván, cột tre. Trên bờ, một người đang gánh hai sọt rễ trên vai, dáng cao hơn lần cuối cô thấy, áo vá nâu bạc.
Người đó dừng lại, đòn gánh nghiêng. Hai sọt rễ trên vai đung đưa.
Chú Tám đẩy xuồng cập cầu. Khuê đứng dậy, xuồng chao một cái, cô nắm lấy không khí, giữ thăng bằng. Cô đã tập câu này từ sáng, từ lúc rời bến, từng chữ, từng nhịp.
"Muội tiện đường."
Chân phải cô bước ra khỏi mạn xuồng, đặt xuống cầu ván, và không có cầu ván nào ở đó. Chân cô hụt xuống bùn, ngập tới mắt cá.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 17 →