Cái chén sành rơi xuống nền gạch bể làm ba, tiếng vỡ gọn và khô, nghe rõ tới tận chái sau.
Kình lăn khỏi võng trước khi tỉnh hẳn. Chân đất chạm nền lạnh, nó chạy dọc hành lang tối, trượt một cái ở góc bếp, vịn vách đứng dậy. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ chưa tắt, hắt một vệt vàng nhỏ vào gian bếp.
Bà nằm nghiêng dưới đất cạnh cà ràng, lưng co lại. Mảnh chén vỡ nằm xung quanh. Tay phải bà nắm chặt cán cái muỗng sứt, nắm tới nỗi các đốt ngón trắng bệch.
"Ngoại!"
Nó quỳ xuống, lật bà nằm ngửa. Mặt bà xám, miệng há, hơi thở ngắn và lạnh. Nó đặt tay lên vai bà. Vai nhẹ như một cái áo chưa giặt.
"Ngoại, ngoại nghe con không?"
Mắt bà mở. Mở trừng, mà không nhìn nó. Không nhìn ai. Con ngươi bà dừng ở một chỗ trên mái bếp, xa hơn trần.
"Ngoại!"
Môi bà động đậy. Nó ghé tai vô sát.
"Con..." Một hơi thở. "Nghêu."
"Nghêu? Chị Nghêu?"
Ngón tay bà nhúc nhích, chỉ ra phía cửa sau, về hướng tây, theo một đường rất thẳng. Rồi ngón tay đó rơi xuống nền gạch, và bà không nói thêm một chữ nào.
Kình đứng dậy. Hai tay nó run, run tới mức nó nắm hai tay vô nhau cho khỏi thấy. Nó nhìn quanh. Chái sau tối om. Ngoài giậu tre, xa xa, có một đốm đèn nhỏ vàng vọt, trước tiệm ông Sáu, nơi thầy Đức đang ngủ.
Một chấm sáng, cách nó hai trăm bước.
Cái bóng nhỏ lông xù xuất hiện ở góc bếp, không nhảy, không chạy. Cộc đi tới cạnh cái cà ràng, cầm cây đèn dầu nhỏ trên bệ lên bằng bàn tay duy nhất, giơ cao, để ánh sáng rọi xuống mặt bà.
Nó không nói câu nào. Không giỡn. Cái miệng của nó mím lại thành một đường thẳng nhỏ xíu.
"Cộc," Kình nói. "Thầy Đức gần hơn. Tao chạy qua tiệm, hai trăm bước."
"Đi đi."
"Thầy biết chữ, thầy biết sổ sách. Mà thầy sẽ hỏi ngoại bệnh gì, tao không có câu trả lời nào đúng phép."
"Đi qua nhà con Nghêu." Giọng khàn của nó không có chút cợt nhả nào. Cộc chưa từng nói bằng giọng đó. "Tao canh."
"Lỡ ngoại..."
"Không lỡ."
"Mày giữ đèn nổi không? Mày có một tay."
"Một tay đủ giữ đèn." Cộc không quay đầu. "Đi."
"Tao đi nhanh lắm."
"Nhanh thì đi. Đứng đó hoài ngoại mày nguội."
Kình chạy. Nó tới cửa giậu, ngoái về phía đốm đèn trước tiệm, đứng đúng một nhịp.
Nó quay đầu, chạy xuống bến.
Chiếc xuồng ba lá buộc vô cọc, nước đen ngòm hai bên. Nó nhảy xuống, cái xuồng chao một cái, nước tạt vô khoang. Nó cầm mái chèo, đẩy.
Con rạch phía sau nhà bà, nước nổi còn cao, mặt rạch phẳng như tấm gương đen. Kình chèo, mỗi nhịp một tiếng khua nước nghe to hơn tiếng tim nó. Hai bên bờ, bông điên điển vàng lòa xòa vươn ra, quẹt vô mặt nó, vô vai, rơi đầy khoang xuồng. Nó không gạt.
Tới ngã ba, nó khựng. Hồi nhỏ nó theo bà qua nhà chị Nghêu đúng một lần, ban ngày, ngồi mũi xuồng. Giờ trời tối, rạch nào cũng giống rạch nào.
Nó rẽ trái. Chèo thêm mấy trăm nhịp, bụi lau dày dần, nước nông dần. Nó biết sai. Nó quay đầu, xuồng quẹt đáy, bùn vọt lên mạn.
Rồi có tiếng chó sủa.
Xa, về phía bên phải. Một con chó, rồi hai. Kình chèo ngược lại, hướng tiếng sủa. Mười nhịp. Hai chục nhịp. Cái cầu ván hiện ra sát mé nước, một ngọn đèn leo lét trên sân cao.
Sân nhà chị Nghêu đầy chậu. Chậu nào cũng ngải, hàng này sang hàng khác, lá sẫm như mực dưới ánh đèn. Trong nhà, bàn thờ nhỏ kê sát vách, một bát hương, một lọ nước lã trong veo.
Kình nhảy lên cầu, lội qua sân, đập cửa.
"Chị Nghêu! Chị Nghêu!"
Một con chó vàng gầy lao ra, sủa nhảy chồm lên đầu gối nó. Cánh cửa mở sau năm tiếng đập.
Cô gái đứng trước mặt cao hơn nó nửa cái đầu, tóc búi thấp quấn khăn rằn, áo bà ba nâu xắn tay. Mặt cau.
"Ai chết mà gõ cửa giờ này?"
"Dạ không ai chết. Ngoại tui..."
"Ngoại mày là ai?"
"Bà Tư Nhài."
Chị Nghêu khựng lại.
"Làm sao?"
"Ngã dưới bếp, tay cầm muỗng, rồi..."
"Muỗng nào?"
"Muỗng sứt."
"Tao hỏi ngã sao, mày trả lời muỗng. Ngã mấy canh?"
"Dạ canh hai. Mặt xám, mắt mở mà không thấy tui..."
"Từ từ. Một câu một. Ngoại mày có ho không?"
"Dạ có. Ngoại giấu, nhai trầu cho tui khỏi nghe."
"Giấu từ hồi nào?"
"Từ hồi tui về. Mà chắc lâu hơn."
"Mày về mấy bữa?"
"Tám bữa."
"Tám bữa mày mới thấy?"
"Dạ."
"Biết chữ mà không biết nhìn, chữ để làm gì?"
"Chị đi liền được không?"
"Ngoại mày nói được không?"
"Hai chữ."
"Chữ gì?"
"Con Nghêu."
Chị im bặt. Cái khăn rằn trên đầu chị giật nhẹ trong gió. Con chó vàng ngừng sủa, ngó chị, cụp đuôi.
Chị quay vô nhà. Không một câu hỏi thêm. Kình nghe tiếng chân chị đi nhanh trên nền đất, tiếng gỗ kéo, tiếng một thứ gì bằng tre được nhấc từ xà xuống. Chị ra, vai đeo cái gùi tre, tay còn xách một bó rễ nhỏ cột dây.
"Xuồng mày đâu?"
"Dưới cầu."
"Mày chèo qua đây một mình?"
"Dạ."
"Lạc không?"
"Một khúc. Tui nghe chó sủa."
"Chó tao có ích." Chị siết quai gùi. "Đi."
Chị chạy xuống cầu ván, vừa chạy vừa hỏi, không ngoái lại.
"Chiều nay bà mày ăn gì?"
"Cháo trắng. Ngoại không ăn."
"Uống gì?"
"Thuốc ngoại tự sắc."
"Thuốc đó mùi sao?"
"Đắng."
"Đắng kiểu nào?"
"Đắng... kiểu đắng."
"Mày học chữ nhiều mà nói không ra cái mùi." Chị nhảy qua một khúc ván gãy. "Hồi sáng bà mày có cười không?"
"Không."
"Lâu chưa cười?"
"Mới cười hôm trước."
"Hôm trước là đủ." Chị lẩm bẩm gì đó bằng tiếng Khmer, Kình không hiểu, giọng thấp như đang nói với chính mình.
Chị bước nhanh hơn nó. Kình chạy theo, tới cầu ván thì chị đã nhảy xuống xuồng, đứng ở đuôi. Chị đưa tay.
"Đưa."
"Dạ?"
"Cái chèo."
Chị giật cái mái chèo khỏi tay nó, cắm mạnh xuống nước.
"Mày chèo như vầy tới sáng bà mày đi rồi. Ngồi đó."
Kình ngồi xuống giữa xuồng, hai tay ôm đầu gối. Mái chèo của chị lùa một cái, xuồng lao đi nhanh gấp đôi, bông điên điển văng tứ tung hai bên mạn.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 12 →