Hai lòng bàn tay Piên nóng rát qua lớp giẻ lót nồi cháo, nên cô đi nhanh hơn để khỏi phải đặt xuống giữa đường.

Khuê đi sau, ôm một bó củi khô to hơn cái lưng mình, bước từng bước như người đi trên cầu khỉ. Nhà ông Sáu nấu cháo cho cả xóm ăn đám ba ngày, còn dư một nồi, ông dúi cho hai đứa đem về. Ông nói thằng Kình ba ngày nay ăn như con mèo bệnh, cháo thì nó nuốt được.

Piên đẩy cửa bếp bằng vai.

Rồi cô đứng lại.

Kình ngồi trong góc bếp, chỗ cái kệ thấp, lưng dựa vách. Cộc ngồi sát bên, cũng dựa vách, hai cái chân lông xù duỗi thẳng ra trước. Hai đứa ngồi chung một góc, vai kề vai, mà không ai nói câu nào. Cái muỗng sứt nằm trên đùi Kình.

Piên đứng ở cửa, nồi cháo trên tay. Khuê đứng sau lưng cô, bó củi chắn nửa mặt.

"Piên đem cháo về mà nè," Piên nói.

Kình ngẩng lên. Nó ngó Piên, ngó Khuê, ngó bó củi. Rồi nó nói, giọng thường, như nói chuyện nồi cơm.

"Cộc tên là Đặng Văn Lộc."

Piên đứng im.

"Cái tên tui khắc trên cán muỗng," Kình nói tiếp, "là tên nó."

Rồi nó im. Nó không nói thêm chữ nào. Piên nghe được cái chỗ nó không nói. Cái chỗ trống trong câu đó, cái chữ lẽ ra phải đứng ở cuối, Kình bước qua nó như bước qua chỗ hụt trong bài hát.

Piên hiểu liền. Cô đã thấy cây nhang cắm riêng trước tấm bài vị trắng sáng rằm. Cô đã thấy Cộc ngồi ngoài hiên suốt mấy đêm ngoại trở bệnh, quay lưng vào nhà. Cô đã nghe ngoại nói tối nào con Liễu cũng chở thằng nhỏ đi xuồng, rồi ngoại mím môi.

Khuê chậm hơn một nhịp. Piên nghe cô hít vô một hơi sau lưng mình. Rồi Khuê quay đầu, không phải về phía Kình, mà về phía cửa thông lên nhà trên, phía góc bàn thờ, chỗ tấm bài vị trắng. Khuê nhìn về phía đó lâu. Bó củi trong tay cô tụt xuống một chút.

"Nói có một chữ mà nhai hoài không ra."

Giọng the thé từ cục đầu rau. Ông Táo đứng chống nạnh, râu cháy một bên vểnh lên.

"Tui nghe từ hồi sáng. Thằng nhỏ nói tới đó thì nghẹn. Nói tới đó thì nghẹn. Ba lần." Ông Táo dậm chân. "Nói luôn cho rồi, nghẹn hoài chi."

"Ông im đi," Cộc nói.

"Tui im hả? Tui im hả!" Ông Táo quay phắt sang Cộc. "Mày biết tui bị trên hỏi bao nhiêu năm không? Năm nào tui khai cũng một dòng: ở chái sau có một con không rõ là gì. Năm nào trên cũng trả về. Hỏi con gì. Tui ghi không rõ."

"Thì ông ghi không rõ thiệt."

"Có ai hỏi tên mày đâu mà tui ghi!"

"Hỏi thì ông cũng khai sai."

"Tui khai sai hồi nào!"

"Ông khai tao là con. Tao đâu phải con." Cộc chùi mũi. "Ông phải khai là một người."

"Người gì cụt tay lông lá vậy!"

"Người bị trời hành."

Piên bụm miệng. Cái nồi cháo trên tay cô sóng sánh.

"Tui làm Táo nhà này bốn chục năm," ông Táo nói, giơ bốn ngón tay đen nhẻm. "Bốn chục năm! Mày tới sau tui."

"Tới sau mà ngồi gần nồi cơm hơn."

"Mày ngồi xó!"

"Xó gần nồi cơm. Ông ngồi đầu rau, gần lửa. Lửa đâu có ăn được."

"Tui là Táo! Táo thì ngồi đầu rau!"

"Vậy ông ngồi đó. Tao ngồi đây. Nồi cơm ở giữa. Chia đôi."

"Chia đôi cái gì! Nồi cơm là của bếp!"

"Bếp có cái xó. Hôm bữa tao nói rồi."

Ông Táo há miệng. Ông ngậm lại. Ông há ra lần nữa, không ra chữ nào. Ông ngồi phịch xuống cục đầu rau.

"Thằng nhỏ," ông nói với Kình, giọng tức tưởi. "Mày coi nó. Biết tên rồi càng cãi hăng."

Piên cười. Cô cười ra tiếng, cười tới cái nồi cháo lắc lư, Khuê phải chụp một bên quai đỡ giùm. Cô cười tới sặc, phải quay mặt đi ho, nước mắt chảy ra. Kình ngồi trong góc cũng nhếch miệng. Khuê thì không cười thành tiếng, mà khóe miệng cô kéo lên rồi không chịu xuống.

Đặt nồi cháo lên bếp, Piên lấy chén trên kệ.

Một chén. Hai chén. Ba chén.

Cô cầm thêm chén thứ tư. Cô đặt nó xuống cạnh ba cái kia, sát mép mâm gần cái góc Cộc ngồi.

Bốn chén.

Cô ngó bốn cái chén trên mâm. Cô nhớ cổng Giám ngày coi bảng, Kình cầm hai quan nói ba chén, không chung một chén nữa. Cô giơ bốn ngón tay. Một chén để dành cho Cộc. Hồi đó cô nói cho vui.

Cô múc cháo. Chén thứ tư cô múc đầy nhất.

Rồi cô ngồi xuống, cầm chén mình, mà chưa ăn. Cô nghĩ tới mẹ. Mẹ ở bản, mùa này núi còn lạnh, gió xuống khe là mẹ ho. Cô nghĩ tới cái bọc thuốc lá chuối ngoại dúi cho, đang nằm trong gùi dưới gầm ván. Mẹ ho về đêm, ho tới sáng.

Nụ cười trên mặt cô chậm lại. Cô thổi chén cháo.

"Piên sao vậy?" Kình hỏi.

"Piên thổi cháo mà nè."

"Thổi lâu quá."

"Cháo nóng."

Khuê ngó cô một cái. Khuê không hỏi.

Cộc với lấy chén thứ tư. Nó ăn một muỗng, rồi muỗng nữa, rồi ngẩng lên.

"Cháo nhà Sáu Lợi nêm lạt."

"Cộc chê hả?" Piên hỏi.

"Không chê. Nói cho biết."

Ngoài bến rạch có tiếng lục lạc. Tiếng chuông đồng nhỏ, khua đều theo nhịp chèo. Piên biết tiếng đó. Tiếng chuông ghe thư của Giám.

Cả bốn đứa ra bến. Một chiếc ghe nhỏ mui lá đã cập vô cọc cầu, người đưa thư áo chàm đang buộc dây. Ông ta lục trong túi vải, móc ra hai lá thư.

"Thư Giám. Một lá cho thầy tuần vùng Lâm Thế Đức." Ông ta giơ lá thứ nhất, niêm son đỏ chói. "Thầy có ở đây không?"

"Thầy đi xã, chiều về," Khuê nói. "Con nhận giùm."

"Lá này cho Nông Thị Piên." Lá thứ hai không niêm son, giấy thô, gấp tư, mép sờn. "Chuyển từ bản xuống Khoa Đồng, Khoa Đồng chuyển vô đây."

Piên cầm lá thư. Giấy thô, có mùi khói bếp. Mùi khói bếp ở bản, khói củi thông, cô nhận ra liền.

Cô mở ra. Chữ Nho, đen, mấy dòng. Cô nhận ra chữ mẫu ở dòng đầu, chữ cô từng hát cho Kình nhớ trên phiến đá sau lớp dự bị. Mấy chữ sau nét dày như rễ, cô đọc không ra.

Cô đưa cho Kình.

Kình cầm, đọc. Môi nó mấp máy dòng đầu. Rồi tới dòng thứ hai, môi nó dừng lại.

Nó không đọc tiếp.

Hết Chương 103
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 104 →
← TrướcTiếp →