"Qua khỏi cây cầu nhỏ, rẽ trái, chạy tới khi thấy cây me lớn."
Ông chỉ đường bằng cột mốc, không bằng tên đường. Tôi men theo, giảm tốc mỗi khi tới ngã rẽ, cẩn
thận với những đoạn đường hẹp không đèn. Khu Thanh Đa ban đêm có những chỗ tối om, chỉ có ánh đèn
xe máy của chính mình soi đường, và tôi luôn nhắc mình chạy chậm hơn ở những đoạn như vậy, không
phải vì sợ, mà vì đó là nguyên tắc.
Cây me lớn hiện ra đúng như lời ông, tán lá xoè rộng che một khoảng đường, rễ cây trồi lên mặt
đất nhựa nứt nẻ xung quanh.
"Rẽ hẻm có tường vàng đó con."
Con hẻm hẹp, chỉ vừa một chiếc xe máy, tường hai bên loang lổ, một đoạn sơn vàng còn sót lại từ
lâu lắm rồi. Tôi nhớ mang máng khu này từng có tin đồn giải toả cách đây mười năm, một phần đã
thành công viên, một phần vẫn còn nhà dân bám trụ. Tôi không chắc con hẻm này thuộc phần nào,
nhưng nó có thật, mặt đường có thật, ổ gà dưới bánh xe cũng có thật, làm xe tôi xóc một cái khi
đi qua.
"Tới rồi. Cảm ơn con."
Ông xuống xe, cởi mũ bảo hiểm đưa lại cho tôi, cẩn thận như sợ làm rơi. Trước mặt là một căn nhà
cấp bốn nhỏ, cửa gỗ đóng kín, nhưng khe cửa sổ hắt ra một vệt sáng vàng ấm. Có tiếng ti vi rất khẽ
từ bên trong.
Ông không gõ cửa ngay. Ông đứng lặng một lúc, nhìn căn nhà như nhìn một người quen lâu ngày không
gặp, rồi mới bước tới, gõ ba tiếng.
Tôi định quay xe đi thì ông quay lại, dúi vào tay tôi một xấp tiền gấp gọn.
"Chú gửi tiền xăng, con cầm đi."
"Dạ đường có gần đâu chú, nhiêu đây chắc dư..."
"Cầm đi con. Không cần thối."
Ông không đợi tôi nói thêm, quay lưng bước vào khi cửa vừa hé mở, một bóng người bên trong đưa
tay ra đỡ ông. Cửa khép lại. Tiếng ti vi lại tiếp tục, đều đều, như chưa từng có ai vừa bước vào.
Tôi ngồi lại trên xe một lúc, nhìn xuống xấp tiền trong tay. Hai tờ năm chục nghìn, một tờ hai
chục, tổng cộng một trăm hai mươi nghìn cho một quãng đường mà nếu tính đúng cước "ĐI NGAY" chắc
chỉ khoảng ba mươi lăm nghìn. Tôi không phải người giỏi toán, nhưng con số dư ra nhiều tới mức
khó gọi là tình cờ.
Tôi bấm đèn pin điện thoại soi lại xấp tiền, định đếm lại cho chắc. Có một tờ khác lẫn trong đó,
cũ hơn hẳn, mép nhàu, màu giấy ngả nâu. Một tờ năm trăm đồng, mệnh giá gần như không còn ai dùng
tới. Tôi không nhớ mình đã nhận nó từ đâu, và cũng không nhớ mình đã bỏ nó vào túi từ lúc nào.
Tôi cất hết vào túi áo khoác, rồ ga chạy ra khỏi hẻm.
Trên đường về, tôi liếc xuống đồng hồ công-tơ-mét theo thói quen, định tính lại quãng đường để
biết mình đã hao bao nhiêu xăng. Con số không khớp với những gì tôi nhớ đã chạy. Dư ra đúng hai
phẩy ba ki lô mét, không hơn không kém, như thể có một đoạn đường tôi đã đi qua mà không kịp nhận
ra mình đang đi.
Tôi dừng xe ở một trạm xăng còn mở, đổ đầy bình, không phải vì cần, mà vì tôi cần đứng lại một
chỗ sáng đèn, giữa những người khác, để nghĩ cho rõ.
Có ba cách để giải thích chuyện vừa rồi. Một, tôi nhớ nhầm quãng đường, chuyện này vẫn xảy ra với
người chạy xe cả buổi tối, mệt thì trí nhớ không chính xác. Hai, cái app định vị lỗi, chuyện cũng
không hiếm, bản đồ số ở Việt Nam vẫn còn nhiều khu chưa cập nhật kịp, nhất là khu giải toả dở
dang. Ba là một khả năng tôi chưa dám gọi tên, chỉ biết nó nằm đâu đó phía sau hai cách giải thích
kia, chờ tôi đủ can đảm nhìn thẳng vào.
Tôi chọn tin vào cách thứ nhất và thứ hai, ít nhất là cho tới sáng mai. Tôi cất điện thoại, rồ
ga, chạy nốt quãng đường về nhà.
Mẹ tôi đã tắt đèn phòng khách, chỉ để lại một ngọn đèn nhỏ trong bếp và một chiếc lồng bàn úp trên
mâm cơm phần tôi. Tôi ăn một mình, nhìn xấp tiền đặt cạnh chén cơm, và trong đầu, câu hỏi về hai
phẩy ba ki lô mét kia cứ lặp đi lặp lại, không chịu tan đi như một bữa cơm nguội bình thường vẫn
tan đi mỗi tối.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →