Mùng hai tháng Bảy âm lịch, má dậy từ ba giờ sáng làm bánh.
Yến nghe tiếng bột nhào trên cái mâm nhôm, bịch, bịch, đều như nhịp chày. Cô nằm nghe tới khi tôn ngả màu xanh, rồi ra phụ. Má nhào bột nếp, xé lá dừa, lót nhân đậu xanh, gói từng cái, tay thoăn thoắt không cần nhìn. Đến sáu giờ, bốn chục cái bánh lá dừa xếp trong rổ tre, đậy khăn ướt, bốc hơi thơm cả chòi.
"Bốn chục đủ hông má?"
"Cô hồn ăn ké, bao nhiêu cũng hết." Má xoa tay lên tạp dề. "Mà lần này xóm đông, má làm năm chục. Con lấy thêm rổ nhỏ."
Hai mẹ con bưng rổ tới tiệm cô Rỡ lúc mười giờ.
Đường mòn giờ đã lót ván. Hồi tháng Sáu anh Nghĩa với mấy người đàn ông khiêng từng tấm ván bạch đàn từ bờ qua, đóng nối thành lối. Ván kêu cộp cộp dưới chân người đi, không còn lún. Tiệm cô Rỡ sáng hơn xưa, mái tôn mới sơn lại, tấm pin mặt trời chói như gương, bảng phấn bên cạnh viết thêm hai dòng. Hai bên tiệm là hai cái chòi mới, tre còn trắng.
Trước tiệm, người ta đã kê hai cái bàn dài ghép lại, trải bạt nilon xanh. Trên bạt là mâm cúng chung của cả xóm: bắp luộc, chuối chín, bánh ít, bánh bò, kẹo, nổ, mía lau chặt khúc, gạo muối bỏ trong cái dĩa lớn, một xấp giấy tiền vàng mã còn nguyên bó. Giữa bàn cắm ba cây nhang, đèn cầy đỏ, khói bay lên nghiêng nghiêng theo gió.
Hơn bốn chục người đứng quanh, đông hơn bữa nào. Đàn bà bưng thêm mâm, đàn ông ngồi hút thuốc, trẻ con núp sau lưng người lớn, mắt dán vô đống kẹo.
"Chị Hai, chị góp có hai mâm, tui góp ba," bà bán bánh bò nói, cười, tay chống hông. "Hôm mùng hai tháng trước tui góp bốn."
"Bà góp bốn mà bốn đều bánh bò," cô Rỡ nói, bưng đĩa bắp vô. "Bánh bò cô hồn chê đó bà."
"Chê gì mà chê! Cô hồn nào dám chê bánh bò tui?"
"Cô hồn nào cũng dám, bà ơi. Tui nghe nói mấy ổng thích bánh ít hơn."
"Thích bánh ít thì mai mốt ra đường tui biết nó là ai." Bà bán bánh bò hăm he, cả đám cười ồ.
Út Nghĩa đặt xuống bàn một mâm tôm càng luộc đỏ au. Chị Xíu chen vô, nhét thêm một bó nhang. Yến đặt rổ bánh lá dừa của má vô giữa bàn, vén khăn ướt. Mùi nếp mới hấp bốc lên.
"Bánh bà Hường!" Ai đó la. "Tui ăn trước cô hồn được hông?"
"Chờ cúng xong," má nói, mắt sáng, mặt rạng rỡ như hôm gặp lại thằng Vinh. "Cúng xong thì ai ăn cũng được, cô hồn bớt giận."
"Bớt giận hả bà? Mấy ổng giận gì?"
"Giận vì đói."
"Vậy sao bác hổng chừa phần cô hồn dưới Trần Đề?" Út Nghĩa chọc, miệng đã nhét nửa cái bánh. "Dưới đó đông."
"Dưới đó có bánh bà Tám."
"Bà Tám nào?"
"Bà Tám hủ tiếu chớ bà Tám nào. Bả cúng mười mâm mỗi mùng hai, cô hồn nào cũng biết." Má lườm anh. "Mà con nuốt đi rồi nói. Nói cái miệng đầy bánh, má chê."
Cả đám cười lần nữa. Bà Năm ngồi trên ghế nhựa ở đầu bàn, chân xếp bằng trên ghế, ngón tay chỉ vô từng mâm, miệng lẩm bẩm đọc tên: bánh, chuối, kẹo, mía. Bà nhón mấy tờ tiền lẻ trong túi áo, một ngàn, hai ngàn, năm trăm, nắm trong lòng bàn tay.
Cô Rỡ đốt nhang, đọc lời khấn. Giọng cô nhỏ, đều, ngắn: mời các vong hồn vô danh ghé ăn, đừng giành, ăn xong về yên chỗ. Cả xóm chắp tay. Khói nhang cuốn vòng quanh bàn. Chị Xíu lẩm bẩm theo, mắt nhắm.
"Xong!" Cô Rỡ vỗ tay.
Trẻ con ào lên.
Chúng xô nhau, đứa chộp kẹo, đứa chộp nổ, đứa vác nguyên khúc mía chạy. Một thằng nhỏ té, bò dậy, tiếp tục chộp. Nhím nhỏ nhất, nhưng lanh nhất. Nó chui qua nách một người lớn, chồm lên bàn, hai tay vơ cả nắm kẹo, thọc vô cổ áo thun, vạt áo căng phồng như cái bao.
"Nhím! Chia cho bạn!" Phol gọi, đứng cách vài bước, giọng nghiêm mà khóe miệng đã giật.
"Con chia rồi ba!"
"Con chia cho ai?"
"Cho con!"
Phol quay mặt đi, vai rung. Yến thấy anh cười, thứ cười nín, thấp, như người sợ làm vỡ thứ gì.
"Anh Phol ngại hả?" Yến hỏi.
"Tôi xin lỗi vì cháu giành." Anh vẫn nhìn con. "Ở quê tôi, ngày này đi chùa, không ai giành gì."
"Ở đây vui hơn hông anh?"
"Vui hơn." Anh nghĩ một chút, cân từng chữ. "Ồn hơn. Nhưng tôi nghĩ má tôi sẽ thích cái ồn này."
"Dạ."
"Cô nhớ nói với cháu, giữ lại một cái kẹo cho tôi."
Bà Năm giơ nắm tiền lẻ lên cao, bàn tay run nhè nhẹ, rồi tung. Mấy đồng xu rơi xuống ván, leng keng. Trẻ con lao tới. Bà cười ngặt nghẽo, chỉ tay.
"Cô hồn cô hồn, ăn đi, đừng giành!"
"Bà Năm ơi, bà ném chi nhiều dữ vậy!"
"Tui giàu! Tui giàu hơn mấy cô hồn!" Bà rống lên, cười rung vai. Má đứng cạnh bà, ôm bụng cười theo, nước mắt chảy ra.
Gần trưa, mâm cúng chỉ còn bàn trống, bạt xanh lấm nước đường. Người đàn bà dọn bàn, người đàn ông chia nhau bắp luộc. Yến cầm cái rổ rỗng của má. Rổ bánh lá dừa chỉ còn một cái, má nhét vô tay Nhím, nó cắn một miếng, nhai, mắt tròn xoe.
Chiều, người ta tản về. Xóm vắng lại. Đèn cầy đã tắt, khói nhang còn lảng vảng.
Yến mang rổ ra sau tiệm rửa. Cô thấy chị Xíu đi một mình xuống con đường ván, cúi thấp, tay ôm một cái dĩa sứ che trong vạt áo. Cô đứng nhìn. Chị đi hết ván, bước xuống bùn, men theo mép cồn phía hạ lưu, tới chỗ đất cao bằng một gang, cỏ lác non mọc xanh.
Chị Xíu ngồi xuống, đặt cái dĩa lên bùn.
Trên dĩa là ba cái bánh lá dừa, còn nguyên lá. Chị chắp tay, nhắm mắt, rồi đứng dậy, không ngoái lại.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 40 →