Cô chèo xuồng con ra hàng đáy lúc nước đứng, và lần này cô không đếm.
Một bên, hai nhịp, đổi bên. Tay cô tự biết. Cây chèo trượt trong lòng bàn tay không còn rít, mũi xuồng đi thẳng như dây thả, mép cồn lùi chậm phía sau. Cô nhìn đằng trước, nhìn nước. Nước đứng thì mặt sông không động, nâu đục, một lớp bọt lờ đờ nằm im trên mạn, không ai đẩy đi đâu.
Cô đã ngồi nguyên đêm trước cuốn sổ có một cột trống. Sáng ra, cô gấp tờ giấy nhét xuống đáy hộp bánh quy, chải tóc, mượn xuồng Phol. Cô không nói với má. Cô không nói với cô Rỡ.
Hàng cọc hiện ra, bảy cây tràm to xiên theo dòng. Trên chòi đáy, ông Mười ngồi xếp chân, cái nón lá rách, hàm chuyển động. Ông ngó xuồng cô tiến lại gần, không chào.
"Dạ ông."
"Ừ."
Cô buộc dây xuồng vô cọc gần nhất, leo thang tre. Trên sàn chòi vẫn có cái bình trà nhựa, cái chén tráng men sứt, cái tời rỉ sét. Cô ngồi xuống mép sàn, đặt hai trái chuối sứ lên ván. Ông Mười liếc chuối rồi liếc lên, không chạm.
"Chuối sứ con mua ở tiệm cô Hai. Ông ăn hông?"
"Để đó."
"Dạ."
"Con hỏi ông chút."
"Hỏi."
"Cái cồn này có từ hồi nào vậy ông? Sao nó lớn nhanh vậy?"
"Nước lớn mùa mưa lên mét hai." Ông nhai, nhổ nước trầu xuống sàn. "Nước kém mùa khô xuống tám tấc. Cá linh về đầu tháng Chín. Hồi trước cá lăng cỡ cổ tay, cá bông lau cỡ cẳng chân. Giờ kéo đáy lên toàn rác."
"Dạ, nhưng cái cồn?"
"Nước ròng hai giờ."
"Ông ơi."
"Cá vược xuống cửa Trần Đề đẻ tháng Mười, tháng Mười hai ngược lại. Hồi nào mà sông Hậu hổng đổi con nước, cô nói tui nghe."
Cô thở ra. Cô ngó sườn mặt ông, những nếp nhăn sâu như khe sét nứt, nhìn cái cằm lún phún râu bạc. Ông nhìn nước. Mắt ông khép thành hai kẽ.
"Ông biết cái gì phải hông?"
Ông không đáp. Hàm ông ngưng một nhịp, rồi nhai tiếp.
"Con hổng trách ông," Yến nói, nhỏ. "Con muốn biết thôi."
"Nước ròng hai giờ." Ông nhổ trầu. "Muốn coi thì chờ."
Cô nhìn đồng hồ điện thoại. Mười giờ kém hai mươi. Cô nói dạ.
"Ông ngồi đây mỗi ngày vậy hả ông?"
"Mỗi ròng."
"Ông hổng buồn?"
"Nước hổng buồn."
"Dạ." Cô xoay cái chén tráng men trong tay. "Ông, dưới Trần Đề có họ bên nội con. Mấy tháng nay họ quên."
Hàm ông ngưng.
"Quên gì?"
"Quên tên nhau. Quên ngày giỗ. Có người hỏi mình là con ai. Họ biết là họ quên, ông, họ nhắn hỏi nhau trong nhóm."
Ông Mười nhìn nước. Một con chuồn chuồn đậu lên mép sàn, ông không đuổi.
"Tui nói rồi," ông nói.
"Dạ, con nghe."
"Vậy thì chờ."
Cô chờ. Trong chòi chỉ có tiếng nước xiết qua cọc, tiếng tời kẽo kẹt khi gió lay, và tiếng nhai của ông Mười. Nắng lên cao. Một con cá lòng tong phóng lên khỏi mặt nước rồi rơi lại. Bình trà nhựa trên sàn đã nguội từ lâu, ông không rót. Cô nhìn xuống chân, thấy nước đã bắt đầu động. Rất chậm. Một vệt chảy ngầm bên dưới lớp bọt, cuốn bọt đi từng chút một.
Hơn mười một giờ ông Mười đứng dậy, bước tới tời, nắm cái tay quay.
"Ròng."
Tời kêu rền rĩ. Tấm lưới xanh nhô lên khỏi mặt nước, nặng, chảy nước thành dòng nâu đục. "Cô đứng ra, kẻo ướt," ông nói, không ngoái lại.
"Dạ."
Ông kéo hết sức, lưng còng thêm, cái nón lá nghiêng. Lưới lên tới mạn, ông xả đáy xuống sàn.
Cá không có mấy. Vài con cá rô, một con lươn rãy rụa. Phần còn lại là rác. Chai nhựa nứt đáy. Một chiếc dép tổ ong màu xanh, mất quai. Một cuộn dây điện. Một cái thau nhựa vỡ. Một mớ lục bình rối. Giữa đống đó, bọc trong cái bao ni lông trong suốt, thắt hai vòng, một khung hình gỗ cỡ bàn tay.
Ông Mười dừng.
Ông cúi xuống, nhấc khung hình lên bằng bàn tay thiếu ngón út. Ông tháo nút ni lông, rút khung ra, lật. Trong khung là một tấm hình đen trắng, ố vàng, hình của một người đàn ông ngồi trên ghế mây, vẻ mặt hiền. Hình thờ.
Ông nhìn nó rất lâu. Không đọc được mặt ông. Hàm ông không nhai.
Rồi ông bọc lại cái hình vô ni lông, thắt hai vòng, đi tới mép chòi và thả nó xuống nước.
Không phải xuống dòng. Ông thả nó ngay chỗ chân cọc cuối hàng, cọc thứ bảy, cọc đóng thẳng, quấn dây xanh bạc. Cái bao nổi một chút, quay nhẹ, rồi từ từ ngậm nước, chìm. Ông thả mà không nhìn theo, mắt ông dán vô cái tời.
Yến ngồi im.
"Hình đó của ai vậy ông?"
"Của ai đó."
"Ông có biết ai hông?"
"Hổng." Ông ngó chỗ nước khép lại. "Hình thờ thì trôi nhiều lắm."
"Dạ. Ông ơi."
"Hả."
"Sao ông hổng thả ra dòng cho nó trôi?"
Ông Mười không quay lại. Ông bỏ bàn tay xuống, nhặt một con cá rô trong sàn, ném vô thau. Ông vừa nhai trầu, vừa nói, giọng cộc như nói với con cá.
"Thả ra thì nó cũng quay về đây."
Rồi ông quay lưng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 39 →