Làng Hạ Sen vẫn vào hội đúng rằm.

Ngọc đã tưởng người ta sẽ hoãn. Cụ Đàm mới nằm xuống, cả làng vừa đi đưa hôm mười bốn, và cái sân đình thì hai đêm trước có một chuyện mà giờ cả làng đều đã nghe theo mười lăm kiểu khác nhau.

Ông Tuấn bảo không hoãn.

"Cô ạ, tôi nghĩ suốt đêm," ông nói. "Hoãn thì sang năm cũng thế. Mà nếu năm nay không làm, tôi sợ là sang năm chẳng ai nhắc đến nữa."

Ông nói cái câu ấy rất bình thường, không biết mình vừa nói trúng cái lõi của toàn bộ chuyện này.

Nên rằm tháng Giêng, làng Hạ Sen mở hội.

Có cờ. Có trống. Có đội tế mặc áo thụng xanh, tám cụ, cụ nào cũng đã ngoài bảy mươi và cụ nào cũng gầy đi trong hai hôm. Có mâm lễ, có xôi gấc, có thủ lợn, có cả một con gà trống luộc ngậm hoa hồng đỏ mà bà nào đó đã sửa cho ngay ngắn ba lần. Có trẻ con chạy lăng quăng, có mấy đứa thanh niên bật loa kéo ở sân kho từ chiều, có bà bán bóng bay đứng ngoài cổng.

Đủ cả. Không thiếu một thứ gì.

Trừ một thứ.

Ngọc đứng ở góc sân, cạnh gốc muỗm, và cô nhìn tám cụ áo thụng xanh dàn hàng trước hương án, và cô nhìn ông Cẩn bước lên chiếu, cầm tờ giấy, và cô thấy tay ông run.

Ông đọc.

Ông đọc hay. Giọng ông vẫn còn tốt lắm so với tuổi, và ông ngân đúng chỗ, ngắt đúng chỗ, và cả cái sân đình im phăng phắc nghe ông. Ngọc không hiểu hết chữ nghĩa trong bài văn tế, nhưng cô nghe được cái nhịp của nó, cái nhịp đã đi qua ba mươi hai năm miệng ông.

Rồi ông đến chỗ xưng danh.

Ông ngừng.

Ông ngừng lâu hơn cần thiết. Ngọc nhìn thấy vai ông nhô lên khi ông hít vào. Cả sân đình đợi.

"Cung thỉnh," ông Cẩn đọc, "bản cảnh Thành hoàng..."

Rồi ông đứng đấy.

Ông đứng đấy giữa cái sân đình đông nghịt người, tay cầm tờ giấy, và ông không đọc tiếp. Ba giây. Năm giây. Có tiếng loa kéo từ sân kho vọng sang, một bài nhạc xuân, xa và lạc lõng.

Ngọc nhìn ông và cô hiểu ra rằng ông không quên. Ông biết rất rõ là chỗ ấy có một cái tên, và ông biết rất rõ là ông không còn cái tên ấy nữa, và ông đang đứng trước cả làng ở đúng cái chỗ trống ấy.

Rồi ông làm một việc mà Ngọc sẽ nhớ rất lâu.

Ông hạ tờ giấy xuống.

"Thưa các cụ, thưa bà con," ông Cẩn nói. Giọng ông không còn giọng tế nữa, nó là giọng nói thường của một ông già bảy mươi tám tuổi. "Đến đây thì tôi phải xưng danh ngài. Mà tôi không xưng được."

Cả sân im.

"Tôi đọc bài này ba mươi hai năm. Ba mươi hai năm tôi đọc cái tên ấy, năm nào cũng đọc, đọc xong là tôi nổi da gà." Ông nhìn xuống tờ giấy trong tay. "Bây giờ tôi không nhớ. Tôi có lỗi với các cụ, tôi có lỗi với ngài, và tôi có lỗi với bà con."

Ông đứng thẳng lên.

"Nhưng tôi không đọc bừa," ông nói. "Ngài có tên. Ngài có tên hẳn hoi. Tôi mà đứng đây gọi ngài bằng một cái tên chung chung cho xong việc thì cái ấy còn tệ hơn là không gọi."

Ông quay về phía hương án, và ông vái ba vái rất chậm.

"Thưa ngài, năm nay con chưa gọi được tên ngài. Con xin khất ngài. Con xin ngài cho làng con một năm. Trong một năm ấy, thế nào làng con cũng tìm lại được cái tên của ngài, và sang năm con ra đây con gọi."

Ông quỳ xuống.

Rồi tám cụ áo thụng xanh quỳ xuống. Rồi ông Tuấn quỳ. Rồi cả cái sân đình, hơn hai trăm con người, già trẻ lớn bé, đứng đấy trong cái nắng nhạt của rằm tháng Giêng, cùng quỳ xuống, và không ai nói một câu nào.

Ngọc đứng ở gốc muỗm và cô thấy mắt mình nóng lên.

Bên cạnh cô, Lạc nói rất khẽ, gần như là với chính anh:

"Nó không lấy được cái này."

"Cái gì?"

"Cái ông ấy vừa làm ấy," Lạc nói. "Nó bào được cái bài vị, nó mài được cái chân tảng, nó sửa được cái hoành phi. Nó làm cả làng quên. Mà nó không làm được cái ông già kia thôi không đòi."

Anh nhổ toẹt một cái xuống đất, cái kiểu rất Lạc.

"Chị Ngọc này. Tôi nghĩ nó tính sai một chỗ. Nó tưởng nó khoét cái tên đi thì xong. Nhưng người ta còn nhớ được cái hình của chỗ trống. Người ta biết là ở đấy đáng lẽ phải có cái gì."

Chiều hôm ấy, trước khi về, Ngọc sang nhà ông Cẩn.

Ông ngồi ở hiên, tờ giấy văn tế vẫn để trên đùi.

"Bác ạ," cô nói. "Cháu hứa với bác là trong một năm, cháu tìm lại cái tên ấy cho làng."

Ông Cẩn nhìn cô một lúc lâu.

"Cô là người của cụ Diệu phải không."

"Vâng."

"Cụ ấy xuống làng tôi năm nào ấy nhỉ, chín tư hay chín lăm." Ông cười. "Hồi ấy cụ ấy còn trẻ, còn đi xe đạp. Cô về cho tôi gửi lời thăm cụ."

"Vâng ạ."

"Cô ơi," ông Cẩn nói. "Cô cầm cái này."

Ông đưa cô tờ giấy văn tế. Giấy A4, in máy tính, chữ to, cỡ hai mươi, cho người già đọc.

"Cô nhìn cái chỗ xưng danh xem."

Ngọc nhìn.

Ở giữa dòng ấy có một khoảng trắng. Không phải chỗ giấy trắng tự nhiên. Là một khoảng đúng bằng bảy tám chữ, và hai bên khoảng ấy là chữ in bình thường.

"Ai đánh máy cái này cho bác?"

"Cháu nó ở nhà văn hóa," ông Cẩn nói. "Nó bảo nó đánh theo cái bản cũ. Tôi hỏi thế cái chỗ này sao trắng, nó bảo bản cũ chỗ ấy mờ, nó không đọc được nên nó để trống, sợ đánh sai."

Ông nhìn cô.

"Cô ạ, tôi bảy mươi tám rồi. Tôi nghĩ thế này. Cái gì bị đốt thì người ta biết là mất. Cái gì bị để trống thì người ta tưởng là chưa bao giờ có."

Trên đường về, xe đến gần cầu Thăng Long thì điện thoại Ngọc rung.

Số lạ. Đầu số cố định.

"Alô, cô cho tôi hỏi có phải cô Ngọc bên hội không ạ. Tôi là Chiến, ở xã Đông Trù. Tôi được ông Tuấn ở Hạ Sen cho số."

Ngọc bảo Lạc tấp vào lề.

"Vâng bác. Bác cứ nói."

"Tôi nghe ông Tuấn kể chuyện làng ông ấy," người đàn ông nói, và giọng ông ta nhanh, hụt hơi, cái giọng của người đã cầm điện thoại lên rồi đặt xuống mấy lần. "Tôi nghe xong tôi ngồi cả đêm, cô ạ. Rồi sáng nay tôi ra đình tôi xem cái bài vị."

Ngọc nhắm mắt lại.

"Làng tôi năm ngoái cũng có cái đoàn ấy về," ông Chiến nói. "Họ đảo ngói cho, họ dựng cho cái bảng đá. Đẹp lắm."

Anh ta thở ra ở đầu dây bên kia.

"Cô ơi, tôi sờ vào cái bài vị nhà tôi mà tôi run hết cả tay. Nó nhẵn."

Chú thích

1. Rằm tháng Giêng là một trong những ngày lễ lớn nhất năm ở làng quê Bắc Bộ, nhiều làng chọn làm ngày vào hội. 2. Trong tế lễ đình làng, phần xưng danh trong văn tế bắt buộc phải đọc đủ tước hiệu và mỹ tự của vị Thành hoàng theo sắc phong; đây là phần trang trọng nhất của bài văn tế.

Hết Chương 8
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 9 →
← TrướcTiếp →