Họ xuống Hạ Sen lần thứ hai vào chiều mười ba tháng Giêng, hai hôm trước hội.
Ngọc đã tính đi sớm hơn. Vọng bảo không. Anh bảo phải đợi trăng gần tròn, không phải vì trăng có phép gì, mà vì đêm sáng thì người làng còn ra ngõ, còn nói chuyện, còn có tiếng người, và cái đó cần thiết.
"Thưa chị, cái tôi sắp làm là mở một cái cửa," anh nói trên đường đi. "Cửa mở thì hai chiều đều đi được. Chỗ nào có tiếng người sống thì bên kia họ ngại vào hơn."
Họ vào làng lúc gần tối. Ông Tuấn đón, và ông đã gầy đi thấy rõ trong tám ngày.
"Ông từ đâu ạ?" Ngọc hỏi.
"Cụ Đàm ấy à? Chắc ở đình. Cụ ở đình suốt." Ông Tuấn ngập ngừng. "Cô hỏi cụ làm gì?"
"Cháu muốn hỏi cụ mấy câu về cái sân."
"Cụ hiền lắm, hỏi gì cụ cũng nói." Ông Tuấn cười. "Cụ tám mươi rồi mà còn khỏe, ngày nào cũng quét từ sáng đến trưa."
"Bác gặp cụ lần cuối là hôm nào ạ?"
"Hôm... " Ông Tuấn dừng. Ngọc đã học được cách nhận ra cái khoảng dừng ấy. "Sáng nay tôi có đi qua đình, tôi thấy cụ quét. Tôi có chào."
"Cụ có chào lại không ạ?"
Ông Tuấn nhìn cô.
"Cụ có gật đầu," ông nói chậm. "Cô hỏi vậy là ý gì?"
Cụ Đàm ở căn nhà ba gian cuối xóm Đoài, một mình. Vợ mất lâu rồi, hai người con đi làm trong Nam, năm về một lần.
Cửa khóa ngoài bằng cái khóa đồng nhỏ.
"Khóa ngoài nghĩa là cụ đi vắng," ông Tuấn nói.
Lạc nhìn cái khóa. Anh không đụng vào nó. Anh chỉ cúi xuống nhìn cái bậc cửa.
"Bác ơi," anh nói. "Cái bậc này bao lâu không có người bước qua rồi bác biết không?"
Trên bậc cửa xi măng có một lớp bụi mỏng và đều. Ở giữa lớp bụi ấy, chỗ đáng lẽ là dấu chân, không có gì cả.
Ông Tuấn đứng nhìn cái bậc cửa. Ông đứng lâu. Rồi ông làm một việc mà Ngọc kính trọng ông vì việc ấy: ông không cãi.
"Tôi đi lấy búa," ông nói.
Cụ Đàm nằm trên phản, quay mặt vào tường, chăn kéo lên đến vai.
Trong nhà lạnh và khô. Trời tháng Giêng, hai tháng nay không có một ngày nào ấm, và căn nhà ba gian đóng kín thì lạnh như cái hầm. Ngọc đã sợ cái mùi mà cô sắp phải ngửi. Không có mùi gì cả. Chỉ có mùi nhà lâu ngày không mở cửa, mùi chiếu cũ, mùi tro bếp nguội.
Trên bàn thờ, ba nén hương cháy dở, tắt từ lâu, cong xuống thành một cái vòng.
Ông Tuấn quỳ xuống bên cạnh cái phản. Ông đưa tay ra, rồi ông rụt lại, rồi ông lại đưa ra và đặt lên vai cụ Đàm.
"Cụ ơi," ông nói.
Rồi ông ngồi bệt xuống nền nhà, và ông khóc, cái kiểu khóc rất khó nhìn của một người đàn ông năm nhăm tuổi không quen khóc, tiếng bật ra từng cục.
"Sáng nay tôi còn chào cụ," ông nói. "Sáng nay. Tôi đi qua cổng đình, tôi bảo cụ Đàm quét sớm thế, và cụ gật đầu với tôi. Tôi thề với các cô các chú là tôi nhìn thấy cụ."
Vọng bước tới, quỳ xuống bên kia phản, và anh làm một việc rất nhẹ nhàng: anh vuốt cho chăn ngay ngắn lại rồi chắp tay vái ba vái.
"Thưa cụ," anh nói. "Con đến muộn."
Anh ngồi im một lúc. Rồi anh nói, không quay đầu:
"Hai mươi tháng Chạp, thưa chị. Cụ đi trong lúc ngủ. Cụ không đau. Cụ cũng không biết là mình đi."
"Anh biết chắc không?"
"Cụ vừa nói với tôi," Vọng nói. "Cụ còn ở đây. Cụ chưa đi được, vì có cái gì đó đang giữ cái tên cụ lại."
Anh đứng dậy, và lần đầu tiên trong suốt cái mùa đông ấy, Ngọc nhìn thấy Vọng giận. Nó không ồn ào. Nó chỉ hiện ra ở chỗ hàm anh siết lại.
"Cụ hỏi tôi một câu, thưa chị. Cụ hỏi là tại sao suốt hai tháng nay không ai sang đây tìm cụ."
Họ tới đình lúc tám giờ tối.
Trăng mười ba, sáng, và cái sân đình sáng đến mức nhìn rõ từng viên gạch bát mòn lõm. Hai cây muỗm đổ bóng đen kịt. Không có một chiếc lá nào trên sân.
Ông cụ đang quét.
Ngọc đứng ở cổng nhìn cái dáng lom khom ấy đưa chổi từ gốc muỗm ra phía cổng, chậm, đều, và cô thấy trong ngực mình một thứ cô không định trước: cô thấy thương.
Cô bước vào sân.
"Cụ ơi."
Ông cụ ngẩng lên. Cười. Cái cười hiền, thật, cái cười của cụ già ở quê thấy con cháu ở xa về.
"Cô ở Hà Nội xuống hả?"
"Vâng ạ."
"Cô vào thắp cho ngài nén hương chưa?"
"Cụ Đàm mất hôm hai mươi tháng Chạp rồi ạ," Ngọc nói.
Cái chổi dừng.
Lần này nó dừng hẳn.
Trong khoảng lặng ấy Ngọc nghe rất rõ mọi thứ: tiếng ti vi từ một nhà nào đó ngoài xóm, tiếng chó sủa xa, tiếng gió đi qua ngọn muỗm. Và một tiếng nữa, rất khẽ, như tiếng nước rút xuống một cái cống.
"Cụ ấy hiền lắm cô ạ," ông cụ nói. Vẫn cái giọng ấy. "Cụ ấy quét cái sân này ba mươi năm."
"Cháu biết."
"Cụ ấy quét kỹ lắm. Cụ ấy bảo cái sân của ngài thì không được để bẩn."
Ông cụ ngẩng đầu lên, và trong cái ánh trăng ấy Ngọc nhìn thấy mắt ông. Vẫn đôi mắt đục của người tám mươi. Nhưng bên trong nó không có gì cả. Không phải cái trống rỗng của người lú lẫn. Là cái trống của một căn phòng có ánh đèn mà không có ai.
"Cháu hỏi thật," Ngọc nói. "Mày đứng đấy được bao lâu rồi?"
"Từ hôm cụ ấy nằm xuống," ông cụ nói.
Và nó nói câu ấy bằng một giọng khác. Không phải giọng đàn ông. Không phải giọng đàn bà. Nó là một giọng nghe như có hai ba người cùng nói một lúc mà lệch nhau nửa nhịp.
"Tôi có làm hại ai đâu, cô ơi." Nó chống chổi, đứng thẳng lưng lên, và cái động tác khó nhọc ấy bây giờ trông giả một cách kinh khủng. "Cụ ấy chết rồi thì cụ ấy có cần cái này nữa đâu. Còn cái sân thì vẫn phải quét. Tôi quét. Tôi quét sạch hơn cụ ấy quét. Cả làng vẫn có ông từ, cả làng vẫn yên. Có ai mất gì đâu."
"Cụ ấy nằm hai tháng trong nhà không ai biết."
"Cái ấy thì tại làng, cô ạ," nó nói. Và nó nói cái câu ấy dịu dàng, gần như là thương. "Tôi có bảo họ đừng sang đâu. Tôi chỉ đứng vào cái chỗ trống, và không ai thấy trống nữa, nên không ai đi tìm. Cô định trách tôi hay trách họ?"
Lạc bước lên. Ngọc giơ tay chặn anh lại.
"Mày quét cái sân này để làm gì?" cô hỏi.
Nó cười.
"Để không ai vào đây," nó nói. "Sân bẩn thì người ta phải cử người ra quét. Sân sạch thì người ta đi qua."
"Còn cái bài vị?"
"Cái ấy không phải tôi," nó nói. "Cái ấy có thợ làm."
Rồi nó nghiêng đầu, và cái động tác nghiêng đầu ấy không phải động tác của một cụ già.
"Cô là cô Ngọc phải không," nó nói. "Bà ấy bảo là thế nào cô cũng xuống. Bà ấy dặn tôi nếu gặp cô thì nói với cô một câu."
"Câu gì?"
"Bà ấy bảo là cô đừng vội thương chúng tôi," nó nói. "Bà ấy bảo là cô với chúng tôi thì giống nhau lắm. Cô cũng đang sống bằng một cái tên mà người ta gọi sai."
Vọng bước tới bên cạnh Ngọc, và anh giơ tay ra, và trong lòng bàn tay anh không có gì cả.
"Thưa cụ Đàm," Vọng nói, rất to, rất rõ, nói vào cái khoảng không giữa sân đình. "Cụ Đàm ở xóm Đoài, cụ tên là Đàm Văn Hối, cụ sinh năm bốn mươi sáu, cụ quét cái sân này ba mươi năm, cụ mất đêm hai mươi tháng Chạp."
Cái vật đang cầm chổi giật một cái.
"Cụ ơi, con mở cửa cho cụ. Cụ về đi ạ."
Nó thét.
Cái tiếng ấy Ngọc sẽ còn nghe lại trong nhiều đêm sau này, vì nó không phải tiếng của một con vật. Nó là tiếng của rất nhiều người cùng thét, và trong đó có tiếng một cụ già, và tiếng một đứa trẻ con, và tiếng một người đàn bà.
Rồi cái thân người ấy đổ xuống sân gạch, nhẹ, như một bó áo quần, và trên cái sân sạch bong dưới ánh trăng, chỗ nó vừa đứng, còn lại một vũng nước đen loang ra chậm và có mùi bùn ao.
Vũng ấy rút xuống kẽ gạch, và hết.
Thư ngồi thụp xuống ở cổng đình, hai tay bịt miệng.
"Chị ơi," con bé nói qua kẽ tay. "Nó bảo chúng tôi."
Chú thích
1. Theo lệ tang ma nhiều vùng đồng bằng Bắc Bộ, người mất trong nhà mà con cháu ở xa thì hàng xóm và làng xóm đứng ra lo, và việc một người già sống một mình mất mà không ai hay là điều làng coi là lỗi chung của cả xóm.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 7 →