Vĩnh Lộc, đội xuống vào một buổi chiều tháng Bảy mưa dầm.
Làng còn hai mươi sáu hộ, và trong hai mươi sáu hộ ấy, người trẻ nhất còn ở lại là một ông năm mươi tám tuổi, trông coi ruộng cho mấy nhà đã bỏ đi làm ăn xa. Còn lại toàn các cụ bảy mươi, tám mươi, chín mươi, sống một mình hoặc với người bạn đời cũng đã còng lưng.
Không ai đủ sức đứng ra tổ chức một cái hội, dù chỉ nhỏ như ở Kẻ Trai hay Mai Động.
"Cô ơi," một cụ bà nói, ngồi trên bậc cửa nhìn mưa rơi, "chúng tôi già hết cả rồi. Đi từ nhà này sang nhà kia còn phải chống gậy, cô bảo chúng tôi tổ chức hội thế nào."
Ngọc đọc tên vị thần cho các cụ nghe, không phải trong một buổi lễ, chỉ ngồi quây quần trong một căn nhà, uống chén nước chè, kể lại câu chuyện trong phiếu năm ba tám.
Các cụ nghe, gật gù, có người khóc, nhưng không ai đứng dậy nổi để làm gì hơn.
"Sang năm cô lại xuống nhé," một cụ ông nói lúc chia tay, "may ra sang năm còn có sức đứng dậy làm cái gì đó nho nhỏ."
Ngọc gật đầu, hứa, dù cả hai đều hiểu cái hứa ấy mong manh thế nào.
Cổ Đường, đội tới vào một ngày cuối tháng Bảy khác, và đây là làng buồn nhất trong hai mươi mốt cái cửa.
Năm một chín bảy tám, đúng năm cả nước xây nhiều công trình thủy lợi, một cái hồ chứa nước được xây ở thượng nguồn, và làng Cổ Đường, nằm trong vùng lòng hồ, phải di dời toàn bộ. Dân làng được đưa đi tái định cư ở ba tỉnh khác nhau, không ở gần nhau, mỗi nhóm một nơi.
Ngôi đình, trước khi nước dâng, được tháo dỡ từng phần, chuyển lên một quả đồi cao gần đó, dựng lại y nguyên. Nó vẫn còn ở đó, bốn mươi tám năm sau, đứng một mình trên đồi, nhìn xuống mặt hồ phẳng lặng phủ kín cả cái nơi từng là làng.
Không ai trông coi thường xuyên. Thỉnh thoảng có vài người, con cháu của dân làng cũ, từ các tỉnh xa về thăm, thắp một nén hương, rồi lại đi.
Đội thuê một chiếc thuyền nhỏ, chèo ra giữa hồ, tới chân đồi, rồi leo lên.
Đình vẫn còn nguyên vẹn một cách kỳ lạ, như thời gian bỏ quên nó ở đây. Bên trong, bụi phủ dày, nhưng hương án, bài vị, tất cả vẫn ở đúng chỗ đã được đặt lại từ bốn mươi tám năm trước.
Thư tìm được sổ ghi chép của người trông coi cuối cùng, một cụ đã mất từ lâu, ghi lại tên và tước hiệu của vị thần, khớp với phiếu năm ba tám.
"Ít nhất tên không mất," Thư nói, giọng nhỏ. "Chỉ là không còn ai ở đây để đọc nó."
Ngọc đứng trước hương án, nhìn ra cửa đình, nhìn mặt hồ trải rộng phía dưới, nơi từng là sân đình, là chợ, là những con đường làng.
Cô không đọc tên. Không có ai để đọc cho nghe.
Cô chỉ đứng lặng một lúc, rồi thắp một nén hương, cắm vào bát hương đầy bụi, và cô nói khẽ, một mình, cho cái đình vắng nghe.
"Con xin lỗi ngài. Con chưa tìm được cách nào cho ngài cả."
Tối hôm ấy, Ngọc viết vào sổ, hai dòng ngắn, không có gì thêm để nói.
Vĩnh Lộc: 26 hộ toàn người già. Không đủ sức tổ chức. Để mở.
Cổ Đường: đình còn, làng mất dưới đáy hồ 48 năm. Không còn ai để gọi. Để mở.
Cô gấp sổ, và cô ngồi im rất lâu trong bóng tối, không viết gì thêm, vì lần này cô không tìm được một câu kết nào, dù chỉ là một câu buồn.
Bốn cửa nhóm Ba, giờ đã đủ cả bốn: Yên Duyên, Mai Động, Vĩnh Lộc, Cổ Đường. Bốn cái tên đã tìm ra, đã đọc được, nhưng không có đủ người, không có đủ chỗ, không có đủ sức để nói to lên trước một cái làng còn tồn tại.
Mười lăm trên mười chín đã xong. Bốn còn lại, có lẽ, sẽ còn để mở rất lâu.
Chú thích
1. Các công trình thủy lợi, thủy điện xây dựng trong giai đoạn 1970-1980 ở miền Bắc từng khiến nhiều làng phải di dời toàn bộ dân cư đi tái định cư, trong đó không ít trường hợp các hộ dân cùng làng bị phân tán tới nhiều địa phương khác nhau thay vì tái định cư tập trung.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 55 →