Thư ngồi nghe Ngọc kể lại chuyện cụ Vấn, mặt tái đi.
"Chị ơi," con bé nói, "em phải nói cái này, dù em không muốn nói."
"Nói đi."
"Bốn tháng nay em coi cái phiếu năm ba tám như thánh chỉ," Thư nói, giọng nghẹn lại. "Em tin nó hơn tin lời làng, vì em nghĩ giấy trắng mực đen thì không nói dối được. Bây giờ em mới thấy, chính cái phiếu ấy cũng là một người đang sợ hãi, ngồi trước mặt kẻ mình không tin, cố nói vừa đủ để không bị hỏi thêm."
Nó lật lại sổ, tìm đến trang cũ.
"Em từng viết vào đây, hồi tháng Giêng, rằng kho một chín ba tám là lời khai, không phải bằng chứng. Em viết mà em không thật sự tin. Em vẫn dùng nó như bằng chứng suốt bốn tháng qua."
"Bây giờ thì sao?" Ngọc hỏi.
"Bây giờ em tin thật rồi," Thư nói. "Và em sợ. Nếu một làng biết giấu khéo như Đông Cốc, thì còn bao nhiêu làng khác giấu mà mình chưa tìm ra người như cụ Vấn để hỏi?"
Cái tên cụ Vấn giữ chín mươi hai năm là một cái tên rất bình thường, hai chữ, không có gì đặc biệt, đến mức Ngọc phải hỏi lại hai lần vì tưởng mình nghe thiếu.
"Chỉ có thế thôi ạ?" cô hỏi.
"Chỉ có thế," cụ Vấn nói. "Ông ấy là nông dân, cô ạ, không phải quan không phải tướng. Ông ấy chỉ là người dám đứng ra nói không, khi cả làng không ai dám nói."
Cụ kể thêm, chậm rãi: sau khi bị bắt đi, không ai trong làng còn tin tức gì. Có lời đồn ông chết trong tù, có lời đồn ông được thả nhưng không dám về vì sợ liên lụy tới làng, có lời đồn ông đổi tên sống ở một tỉnh khác đến cuối đời.
"Không ai biết đâu là thật," cụ Vấn nói. "Nhưng làng vẫn thờ, vì cái người ta nhớ không phải cái chết của ông, là cái lúc ông đứng ra."
Lạc, đứng ngoài sân nhà cụ Vấn suốt buổi nói chuyện, đợi tới lúc ra về mới lên tiếng.
"Chị Ngọc," anh nói, "tôi để tay xuống đất từ nãy. Cái rễ ở đây lạ lắm."
"Lạ thế nào?"
"Nó không mỏng như Kẻ Trai, không dày giả như Đại Từ," anh nói, đi bên cạnh cô trên con đường làng rợp bóng tre. "Nó như một cái mạch bị nén lại, ép chặt, chín mươi hai năm không được xả ra. Tôi chưa từng sờ phải cái gì như thế."
"Nén vì cái gì?"
"Vì sợ, chị ạ," Lạc nói. "Tôi nghĩ đất cũng nhớ được nỗi sợ, không khác gì người. Chín mươi hai năm một cái tên bị nén xuống dưới một câu nói vô nghĩa, cái áp lực ấy nó phải đi đâu đó. Nó ngấm vào đất, ngấm rất sâu, và bây giờ mình vừa mở nắp."
Anh dừng lại, nhìn về phía ngôi miếu nhỏ cuối làng.
"Tôi mong là mở đúng cách," anh nói.
Việc thuyết phục làng đọc tên, lần này, không khó như Thượng Cát hay Đại Từ.
Cả làng đã âm thầm biết từ lâu, chỉ chưa ai dám là người đầu tiên nói ra trước đám đông. Khi Ngọc mang câu chuyện của cụ Vấn ra trình bày với ban khánh tiết, không ai phản đối.
"Bây giờ có còn gì phải sợ nữa đâu," ông trưởng ban nói, gần như nhẹ nhõm. "Chúng tôi giấu theo quán tính từ đời trước để lại, chứ tự hỏi lại thì cũng không nhớ nổi vì sao còn phải giấu."
Hội làng Đông Cốc năm ấy có thêm một nghi thức chưa từng có: trước lúc xưng danh, cụ Vấn, chín mươi hai tuổi, được dìu ra đứng trước hương án, kể lại câu chuyện ông đã giữ suốt đời, kể cho cả làng cùng nghe một lần cuối trước khi nó chính thức trở thành lời văn tế.
Cụ kể xong thì ngồi thụp xuống, mệt lả, nhưng mắt cụ sáng.
"Bố ơi," cụ nói, không rõ là nói với ai, "con làm xong việc bố dặn rồi."
Chủ tế đọc tên. Cả sân đọc theo.
Ngọc đứng ở cuối sân, và lần này cô không kìm được nước mắt, không phải vì xúc động thuần túy như ở Thượng Cát, mà vì một cái gì đó phức tạp hơn: cái cảm giác vừa mừng vừa rùng mình khi hiểu ra rằng có những bí mật được giữ không phải vì quên, mà vì một nỗi sợ đã truyền qua bốn đời người mà không ai còn nhớ gốc gác của nó, và nỗi sợ ấy chỉ tan đi khi có người đủ già, đủ kiên nhẫn, sống đủ lâu để chờ đúng lúc trao lại.
Tối hôm ấy, Thư viết lại bảng ba cột, sửa một chỗ.
Nó gạch cột thứ hai của Đông Cốc, tên vị thần đọc từ phiếu năm ba tám, và viết đè lên bằng bút đỏ tên cụ Vấn vừa nói ra.
"Từ giờ em không tin phiếu một trăm phần trăm nữa," nó nói với Ngọc. "Em tin phiếu, cộng với một người còn sống đủ lâu để kiểm lại nó."
Ngọc gật đầu, ghi vào sổ của mình.
Làng mười hai trên mười chín: Đông Cốc. Cái phiếu từng nói dối, và nói dối vì sợ, không vì ác. Chín mươi hai năm, một ông cụ giữ đúng cái phiếu đã không dám viết ra.
Cái đáng sợ không phải là quên. Là có người phải chọn giữa nói thật và giữ mạng, rồi phải sống cả đời với cái lựa chọn ấy.
Cô ngồi nhìn dòng chữ ấy một lúc lâu, rồi mở lại phong bì cũ, cái phong bì bà Tâm đưa hôm cô Diệu mất, cái phong bì đã sờn góc vì cô mang theo suốt bốn tháng.
Cô Diệu, bốn mươi hai năm trước, cũng từng đứng ở đúng chỗ cụ Vấn đứng bây giờ: nắm một sự thật khiến bà đau, và chọn không nói ra suốt cả đời, chỉ nói cho đúng một người trước khi mất.
Khác nhau ở một chỗ. Cụ Vấn giữ vì sợ người khác. Cô Diệu giữ vì sợ chính mình.
Ngọc gấp phong bì lại, cất vào trong sổ, cạnh cái tên Nguyễn Văn Chiểu bà đã viết từ tháng Hai.
"Lạc nói cái rễ ở Đông Cốc bị nén chín mươi hai năm," cô viết thêm, "nhưng tôi nghĩ không phải chỉ đất mới nén được nỗi sợ. Người cũng nén được, lâu hơn cả đất, chỉ khác là người chết đi thì cái nén ấy vỡ tan theo, còn đất thì vẫn còn đó cho ai biết cách chạm vào."
Cô đóng sổ, tắt đèn, và cô ngủ một giấc dài hơn mọi đêm trong bốn tháng vừa qua.
Chú thích
1. Việc truyền miệng bí mật qua nhiều thế hệ trong gia đình hoặc dòng họ, chờ đến khi hoàn cảnh chính trị xã hội đổi khác mới công khai, là hiện tượng ghi nhận được ở không ít cộng đồng từng trải qua giai đoạn bị kiểm soát hoặc đàn áp gắt gao.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 51 →