Kẻ Trai không phải một làng, mà là hai giáp cũ nhập lại: giáp Đông thờ một ông thần núi, giáp Đoài thờ một bà Thánh Mẫu cai quản khúc sông chảy qua.

Năm một chín bảy tám, hợp tác xã sáp nhập hai giáp thành một đội sản xuất, và để tiện việc chung, ban quản lý hồi ấy quyết định gộp luôn hai ngày tế vào làm một, lấy ngày của bà Thánh Mẫu, vì đền bà lớn hơn, đường vào thuận hơn, dễ tập trung dân công.

Ngày ông thần núi, cách đó ba hôm, bị bỏ.

Không ai chủ trương quên ông. Người ta chỉ nghĩ, gộp lại cho tiện, đỡ phải huy động dân hai lần trong một tuần giữa mùa vụ.

Bốn mươi tám năm sau, giáp Đông vẫn tế bà Thánh Mẫu, đọc đúng tên bà, đúng tước hiệu. Còn cái miếu thờ ông thần núi trên sườn đồi thì cỏ mọc gần kín cửa, năm được thắp hương một hai lần, không có văn tế, không có lễ.

Ông Điền, bảy mươi hai tuổi, người giáp Đông, dẫn Ngọc lên miếu.

Đường mòn cỏ tranh cao ngang gối, ông phải đi trước phạt cỏ bằng cái liềm mang theo.

"Bé thì tôi hay lên đây chơi," ông nói, thở hổn hển vì dốc. "Bố tôi dặn là mùng năm tháng Năm phải lên thắp hương cho ông. Bố tôi mất, tôi vẫn lên, nhưng chỉ có một mình tôi."

Cái miếu nhỏ, mái ngói sập một góc, bên trong còn một bát hương đã nứt, không có bài vị.

"Tên ông là gì ạ?" Ngọc hỏi.

Ông Điền đứng lặng.

"Tôi không nhớ nữa, cô ạ," ông nói, giọng vỡ ra. "Bố tôi có dạy, nhưng tôi già rồi, tôi quên mất."

Phiếu năm ba tám cứu được ông.

Tên, tước hiệu, cả một đoạn ngắn kể ông là vị thần trấn giữ ngọn núi phía sau làng, dân tin ông giữ cho đất khỏi lở mỗi mùa mưa, và giáp Đông đời đời tế ông vào đúng mùng năm tháng Năm, ba hôm trước ngày tế bà Thánh Mẫu bên giáp Đoài.

Ngọc mang tờ giấy xuống, đọc cho ông Điền nghe ngay tại cái miếu sập một góc ấy.

Ông ngồi bệt xuống nền miếu, hai tay ôm mặt, khóc như trẻ con.

"Ông ơi," ông nói, không phải nói với Ngọc, "con nhớ ra tên ông rồi. Con xin lỗi ông, bốn mươi tám năm con để ông một mình trên đồi này."

Ngọc ngồi xuống bên cạnh ông trên nền miếu ẩm, không nói gì, để ông khóc cho hết.

Lúc ông nguôi, ông lau mặt bằng vạt áo, nhìn ra cửa miếu, nơi có thể thấy xa xa mái đền bà Thánh Mẫu to lớn dưới chân đồi.

"Cô biết cái buồn nhất là gì không," ông nói. "Ông thần núi với bà Thánh Mẫu, theo tích cũ, là hai anh em. Bà giữ nước, ông giữ đất, hai người cùng canh cho cả vùng này khỏi lở khỏi lụt. Bốn mươi tám năm nay, người ta chỉ nhớ đến bà, còn ông thì bị bỏ lại một mình trên đồi, như đứa em bị cả nhà quên mất."

Cuộc họp giữa hai giáp diễn ra tối hôm sau, ở nhà văn hóa xã, và không suôn sẻ như Ngọc hy vọng.

Ông trưởng ban quản lý, người giáp Đoài, nghe xong thì lắc đầu ngay.

"Cô ơi, tôi hiểu tình cảm của bác Điền," ông nói, "nhưng tôi phải lo cho cả xã. Tách ra hai lễ nghĩa là hai lần huy động loa đài, hai lần dọn dẹp, hai lần xin phép công an xã cho tụ tập đông người. Ngân sách văn hóa của xã một năm có bằng này, tôi chia đôi ra thì lễ nào cũng làm không tới nơi tới chốn."

"Cháu không xin tách hẳn," Ngọc nói. "Cháu chỉ xin một buổi lễ nhỏ, ngay tại miếu, không cần loa đài, không cần xin phép tụ tập đông người vì sẽ không đông. Chỉ cần một văn tế, một hương án, ba chục người giáp Đông đứng quanh miếu."

"Thế thì có tính là lễ hội chính thức không?" ông trưởng ban hỏi, vẻ dò xét. "Có phải báo cáo lên huyện không?"

Ngọc nhìn ông một lúc, hiểu ra cái ông thật sự lo không phải chuyện ngân sách.

"Không cần báo cáo gì cả," cô nói. "Đây không phải một lễ hội mới, bác ạ. Đây chỉ là trả lại đúng cái đã có từ trước một chín bảy tám. Bác không phải xin phép ai để trả lại cái vốn dĩ là của mình."

Ông trưởng ban im một lúc, rồi nhìn sang ông Điền, đang ngồi lặng lẽ ở cuối bàn.

"Bác Điền," ông nói, giọng đã mềm hơn, "bác chắc là chỉ cần nhỏ vậy thôi chứ?"

"Chỉ cần thế thôi," ông Điền nói. "Tôi chỉ cần ông ấy có một hôm trong năm, người ta gọi đúng tên ông ấy."

Mùng năm tháng Năm, giáp Đông tổ chức lễ riêng đầu tiên sau bốn mươi tám năm.

Không đông, chỉ hơn ba chục người, phần lớn là người già còn nhớ đường lên miếu. Có cả mấy đứa cháu ông Điền, được ông bắt đi theo từ hôm trước, đứa lớn nhất mười lăm tuổi, cầm liềm phạt cỏ giúp ông dọn lối lên lần cuối trước lễ.

Mái miếu vẫn sập một góc, nhưng Trọng và Lạc đã lên từ sáng sớm, dựng tạm một tấm bạt che mưa nắng, quét dọn nền, lau lại cái bát hương nứt. Không sửa được nhiều trong một ngày, nhưng đủ để cái miếu trông có người chăm.

Ông Điền đọc văn tế, giọng run vì tuổi và vì xúc động, đọc đúng tên ông thần núi mà bố ông đã dạy cho ông từ bé. Đến đoạn xưng danh, ông dừng lại một nhịp, nhìn lên mái miếu sập góc, như đang nhìn thẳng vào mắt một người đứng đó thật, rồi mới đọc tiếp.

Ba hôm sau, mùng tám, giáp Đoài tế bà Thánh Mẫu như thường lệ, nhưng lần này người dẫn chương trình nhắc thêm một câu, theo đề nghị của chính đội: "Xin bà con nhớ rằng ba hôm trước, giáp Đông ta đã tế ông thần núi, vị thần anh em của Thánh Mẫu, cùng giữ đất giữ nước cho cả vùng."

Ngọc ghi vào sổ tối hôm ấy.

Làng 5/19: Kẻ Trai (giáp Đông), mùng 5 tháng Năm. Không phải quên vì ác ý, không phải quên vì lợi ích. Quên vì tiện, bốn mươi tám năm trước, một quyết định hành chính nhỏ.

Cách gỡ cũng nhỏ: không cần huỷ cái gộp, chỉ cần thêm lại cái đã bớt.

Cô gấp sổ, rồi mở lại, viết thêm một dòng cuối cùng, vì cô nhớ tới gương mặt ông Điền lúc đứng trước cửa miếu chiều nay, nhìn đứa cháu mười lăm tuổi cầm liềm phạt cỏ.

Đứa cháu ông Điền hỏi sang năm có phải đi phạt cỏ nữa không. Ông Điền bảo có, năm nào cũng phải đi, cho tới khi nào cháu tự nhớ đường mà không cần ông dẫn nữa. Đấy có lẽ là câu trả lời đúng nhất cho câu hỏi mình vẫn tự hỏi: giữ một cái tên nghĩa là gì. Không phải đọc nó một lần. Là có người đi lại con đường ấy đủ nhiều lần để nó không mọc cỏ lại.

Chú thích

1. Giáp là đơn vị tổ chức xã hội truyền thống trong làng Việt cổ, mỗi giáp thường có đình, miếu và lệ tế riêng; nhiều giáp bị sáp nhập về mặt hành chính trong các đợt cải cách nông thôn thế kỷ XX, kéo theo việc gộp hoặc bỏ bớt các lệ tế riêng của từng giáp.

Hết Chương 47
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 48 →
← TrướcTiếp →