Thư mất bốn ngày để đọc hết phiếu năm ba tám của Đại Từ, không phải vì phiếu dài, mà vì con bé đọc đi đọc lại, không tin vào mắt mình.
"Chị ơi," nó gọi cho Ngọc, giọng run, "em phải đọc cho chị nghe cái này ngay bây giờ."
Phiếu chép: Đại Từ thờ một người tên Đỗ Văn Cả, không phải tướng, không có phẩm hàm, là đội trưởng đội tuần đinh của làng, chức nhỏ nhất trong hệ thống canh phòng cũ. Năm loạn lạc, một toán cướp lớn đánh vào vùng, ông Cả cầm đầu đám tuần đinh giữ cây cầu độc đạo vào làng suốt một đêm, chặn được toán cướp, cứu cả làng khỏi bị đốt phá.
Ông chết ngay trên cầu, bị chém, xác được dân làng đưa về chôn cất tử tế.
Không sắc phong triều đình nào được nhắc tới trong phiếu. Chỉ có một dòng cuối: dân bản xã tự lập miếu thờ, gọi là Cả Cầu, sau đổi thành đình.
"Còn cái bảng bây giờ ghi gì?" Ngọc hỏi.
"Chị xem ảnh em gửi," Thư nói.
Ngọc mở điện thoại. Tấm bảng đá ở cổng Đại Từ, chữ vàng khắc chìm, ghi một cái tên khác hẳn, dài hơn, kèm phẩm hàm, kèm quê quán một tỉnh xa, kèm một trận đánh có tên trong sử sách, kèm câu được triều đình sắc phong Thượng đẳng thần.
"Cái tên này," Thư nói, "em tra rồi. Nó trùng với một vị tướng có thật, chép trong chính sử, quê ở tỉnh khác, đánh trận khác, chết cách Đại Từ hơn trăm cây số."
"Nghĩa là họ lấy tên một ông tướng có thật, gán vào làng mình?"
"Không hẳn gán hết ạ," Thư nói. "Em đọc thấy có báo địa phương viết về vụ này, năm hai nghìn lẻ năm. Có một ông tên là Vũ Đình Khang, cán bộ văn hóa xã hồi ấy, làm hồ sơ xin xếp hạng di tích cấp tỉnh cho đình Đại Từ. Ông ấy thấy chuyện ông Cả tuần đinh giữ cầu quá đơn giản, sợ không đủ điểm xếp hạng, nên..."
Con bé dừng lại.
"Nên ông ấy ghép," Ngọc nói.
"Vâng ạ. Ông Khang lấy đúng cái tên ông tướng có thật kia, vì tình cờ ông tướng ấy cũng có một trận đánh gần cầu, và ông Khang viết vào hồ sơ là ông tướng ấy có công giúp Đại Từ, sau đó về quê mất, dân Đại Từ lập đền thờ vọng."
"Bịa hoàn toàn?"
"Không hoàn toàn ạ," Thư nói, giọng nặng nề. "Ông tướng ấy có thật. Trận đánh ấy có thật. Chỉ có cái chi tiết giúp Đại Từ là bịa. Ông Khang khéo lắm, ông ấy không bịa ra một cái gì hoàn toàn mới, ông ấy chỉ nối hai cái có thật lại với nhau bằng một câu không có thật."
Xã Đại Từ được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm hai nghìn lẻ sáu.
Từ đó, đình được đầu tư sửa sang, đường vào làng được rải nhựa, có ngân sách bảo tồn hằng năm. Vài năm sau, một công ty du lịch để ý, đưa Đại Từ vào tour "làng cổ tâm linh" cuối tuần từ Hà Nội. Homestay mọc lên. Có người mở quán bán đặc sản. Có người làm hướng dẫn viên bán thời gian.
Ông Khang mất năm hai nghìn mười hai, được làng làm ma to, vì ông được coi là người có công lớn nhất với Đại Từ trong nửa thế kỷ.
Không ai trong làng, ngoài vài cụ già đã mất gần hết, còn nhớ tên thật Đỗ Văn Cả.
Đội xuống Đại Từ ngày hai mươi tám tháng Ba, hội làng vào mùng hai tháng Tư, còn năm hôm.
Người tiếp họ là ông chủ tịch hội đồng hương kiêm trưởng ban quản lý di tích, một người đàn ông trạc năm mươi lăm, mặc áo sơ mi ủi thẳng, nói năng như người quen tiếp khách.
Ông nghe Ngọc trình bày xong thì cười, một nụ cười rất lịch sự nhưng lạnh.
"Cô ơi," ông nói, "tôi cảm ơn cô đã quan tâm, nhưng cô cho tôi hỏi thật, cô định làm cái gì với thông tin này?"
"Cháu chỉ mong làng đọc đúng tên ngài trong hội tới ạ."
"Đọc đúng tên là đọc tên nào?" Ông chỉ tay ra cổng. "Tên trên bảng đá kia là tên đã được tỉnh công nhận, đã in trong hồ sơ di tích cấp quốc gia đang xét, đã lên cả sách hướng dẫn du lịch. Bây giờ cô bảo tôi đứng lên nói với năm trăm khách du lịch mỗi tháng rằng cái tên ấy là bịa?"
"Cháu không nói ngài là bịa," Ngọc nói. "Ngài có thật. Ông Cả có thật, ông ấy giữ cầu cả đêm, ông ấy chết để cứu làng. Cháu chỉ nói cái tên trên bảng là sai."
Ông chủ tịch im một lúc, rồi ông đứng dậy, đi ra cửa sổ.
"Cô có biết bao nhiêu gia đình trong làng này sống nhờ cái tên trên bảng đá đó không?" ông hỏi, không quay lại. "Hai mươi ba hộ làm homestay. Mười bảy hộ bán hàng lưu niệm. Bốn mươi mấy người làm hướng dẫn viên, bảo vệ, dọn vệ sinh khu di tích. Cô đổi cái tên, cô nghĩ khách còn tới không?"
Ngọc ra khỏi nhà ông chủ tịch lúc chiều muộn, và cô đi bộ ra chỗ cái cầu.
Cầu vẫn còn, đã được xây lại bằng bê tông từ lâu, nhưng dấu tích cây cầu cũ, mấy phiến đá kê chân trụ, vẫn nằm dưới bờ suối, phủ rêu.
Lạc đi cùng cô, và anh ngồi xổm xuống bờ suối, đặt tay lên một phiến đá.
"Ở đây," anh nói, "cái rễ nó khác hẳn trên đình."
"Khác thế nào?"
"Mỏng, nhưng sạch," anh nói. "Như một sợi chỉ, nhưng là chỉ thật, không pha."
Anh nhìn lên phía đình, xa xa sau rặng cây, nơi có mái đình cong và cái cổng tam quan son thếp.
"Trên kia thì ngược lại," anh nói. "To, dày, nhưng nó lẫn. Chị Ngọc, tôi không biết diễn tả sao cho đúng, nhưng nó giống như một cái ao nước trong bị đổ một xô nước đục vào. Nước vẫn đầy, có khi còn đầy hơn, nhưng không ai uống được nữa."
Ngọc ngồi xuống cạnh anh, nhìn phiến đá cũ dưới rêu.
"Ông Cả nằm dưới cầu này," cô nói, "còn ông tướng vay mượn thì đứng trên đình, nhận hương khói của năm trăm khách mỗi tháng."
Chú thích
1. Quy trình xếp hạng di tích lịch sử văn hóa các cấp yêu cầu hồ sơ khoa học về lai lịch, sự tích và giá trị của di tích; việc hồ sơ này được biên soạn thiếu chính xác, kể cả do thiện ý muốn nâng tầm giá trị di tích, là rủi ro đã được giới nghiên cứu di sản nhiều lần cảnh báo. 2. Tuần đinh là lực lượng canh phòng, tuần tra an ninh do làng tự tổ chức trong thời phong kiến, phân biệt với quân đội triều đình; đội trưởng tuần đinh là một chức việc nhỏ trong bộ máy tự quản làng xã, không có phẩm hàm triều đình.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 46 →