Phù Xá vào hội rằm tháng Ba, và phiếu năm ba tám của làng này Thư đọc xong thì ngồi lặng đi mất mấy phút.
"Chị ơi," con bé nói, "làng này khác hẳn hai làng trước."
"Khác thế nào?"
"Hai làng trước, cái bị mất đi là một sự thật người ta không còn nhớ." Thư đẩy tờ giấy sang. "Làng này thì khác. Người ta nhớ. Người ta chỉ không muốn nói ra."
Bà Nhiêu, phiếu chép, không phải tên thật, là tên tục dân làng gọi theo nghề: người nhận nuôi trẻ mồ côi thuê, nghề nhiêu.
Bà không có chồng.
Năm ấy dịch tả về, chết nửa làng trong ba tháng. Bà Nhiêu khi đó đã đính hôn, chỉ còn hai tháng nữa là cưới. Bà xin hoãn để ở lại chăm người ốm, vì bà là người duy nhất trong làng từng qua một trận dịch trước đó và biết cách nào giữ được người sống.
Nhà trai đợi một tháng, rồi hai tháng, rồi bỏ.
Bà không cưới ai nữa. Bà ở vậy chăm người ốm cho tới khi chính bà lây bệnh và mất, không con cái, không chồng, năm ba mươi sáu tuổi.
Làng nhớ ơn, lập miếu, sau dựng thành đình, thờ làm Thành hoàng.
"Đọc thì đẹp thế," Ngọc nói, "sao lại khó nói với khách?"
"Chị xuống rồi chị biết," Thư nói, và giọng con bé có cái gì đó dè dặt khác thường.
Họ xuống làng chiều hai mươi tháng Ba, còn năm hôm là hội.
Người tiếp họ là ông Phúc, doanh nhân quê gốc Phù Xá, có xưởng gỗ trên tỉnh, mấy năm nay bỏ tiền tài trợ gần hết chi phí hội làng. Ông năm mươi tuổi, áo sơ mi là phẳng, đồng hồ to, nói chuyện dứt khoát.
"Cô hỏi về ngài thì tôi nói thẳng với cô," ông Phúc nói, ngồi ở phòng khách nhà mình, bàn gỗ lim đánh bóng. "Làng tôi bên cạnh là Đại Từ, cô biết Đại Từ không?"
"Cháu chưa xuống ạ."
"Đại Từ thờ một ông tướng. Đánh giặc, có công trạng, có sắc phong đẹp, có tích hay để kể. Khách xuống, cán bộ huyện xuống, nhà báo xuống, người ta chụp ảnh, người ta viết bài, làng ấy giờ thành điểm du lịch tâm linh."
Ông chỉ tay ra ngoài, về phía làng bên.
"Còn làng tôi thì sao? Thờ một bà không chồng, không con, chết vì dịch. Cô bảo tôi kể cái ấy cho khách nghe kiểu gì? Cho nhà đầu tư nghe kiểu gì? Người ta cười cho."
"Bác Phúc," Ngọc nói, "bác biết là bác đang nói cái gì không ạ?"
Ông Phúc nhìn cô.
"Cháu nói thật, bác đừng giận," Ngọc nói. "Bác vừa kể cho cháu nghe một trong những chuyện đẹp nhất cháu từng nghe trong hai tháng nay. Một người đàn bà bỏ đám cưới của mình để đi cứu người, rồi chết vì việc ấy. Và bác gọi cái đó là cười cho."
Ông Phúc im.
"Cô còn trẻ," ông nói, giọng đã bớt cứng hơn một chút. "Cô chưa phải lo cho cả một cái làng."
"Cháu không lo cho làng," Ngọc nói. "Cháu chỉ hỏi bác một câu. Bác sợ người ta cười cái gì? Cười vì bà ấy không chồng, hay cười vì làng mình không có tướng có quan để khoe?"
Ông Phúc không trả lời ngay câu ấy.
Ông đứng dậy, đi ra cửa sổ, nhìn ra sân, và khi ông quay lại thì mặt ông đã khác.
"Tôi kể cô nghe cái này," ông nói. "Mẹ tôi mất khi tôi lên năm. Bố tôi đi biền biệt. Bà nội tôi nuôi tôi bằng nghề nhiêu, y hệt cái nghề bà Nhiêu làm ngày xưa. Bà tôi hay kể chuyện bà Nhiêu cho tôi nghe, kể như kể chuyện cổ tích, tối nào cũng kể."
Ông ngồi xuống lại.
"Tôi lớn lên, đi làm, có tiền, tôi về làng, tôi thấy cái đình cũ nát, tôi bỏ tiền sửa. Tôi không phải người ghét bà Nhiêu, cô ạ. Tôi là người yêu bà ấy nhất làng này."
"Thế sao bác lại bỏ tên ngài?"
"Vì tôi sợ," ông Phúc nói, và lần này giọng ông thật. "Tôi sợ người ta nhìn vào cái tôi lớn lên với, rồi người ta thấy nó nhỏ. Tôi làm ăn với người thành phố, cô ạ. Tôi đưa họ về làng, tôi không dám kể chuyện bà tôi nuôi tôi bằng nghề nhiêu, tôi không dám kể làng tôi thờ một bà không chồng. Tôi sợ họ nghĩ tôi ở một cái làng nghèo, quê, không có gì đáng nói."
Thư đặt tờ phiếu xuống bàn, nhẹ nhàng.
"Bác Phúc ơi," con bé nói. "Cháu đọc cái này cho bác nghe một câu thôi ạ, câu cuối trong phần thần tích."
Nó dò tay, đọc.
Dân bản xã đến nay còn truyền câu: người chết vì thương người sống thì người sống phải nhớ, chẳng cứ giàu nghèo sang hèn.
Ông Phúc ngồi im.
"Câu ấy ai viết vào phiếu năm ba tám ạ?" con bé hỏi, dù nó biết câu trả lời không có trong tài liệu. "Cháu nghĩ là chính người trong làng viết. Người ta viết câu ấy vào giữa lúc cả nước đang bị người Pháp bắt khai đủ thứ giấy tờ, và người ta vẫn dừng lại viết thêm một câu không ai bắt viết."
Nó ngẩng lên.
"Người ta viết vì người ta không muốn ai sau này quên mất cái ý ấy."
Ông Phúc ngồi rất lâu không nói gì.
"Hội năm nay tôi vẫn tài trợ chứ," cuối cùng ông nói, giọng đã mềm hẳn. "Tôi không rút tiền đâu, cô đừng lo."
"Cháu không lo chuyện tiền ạ," Ngọc nói.
"Nhưng xưng danh thì..." Ông dừng lại, xoa mặt. "Cô để tôi nghĩ. Tôi không hứa được ngay đâu."
Ngọc gật đầu.
"Cháu không cần bác hứa hôm nay," cô nói. "Cháu chỉ mong bác nghĩ đến đúng cái điều bác vừa kể cho cháu nghe. Bà bác nuôi bác bằng nghề nhiêu. Bác lớn lên từ đấy. Bác không nhỏ đi vì cái đó, bác ạ."
Tối hôm ấy, ở nhà khách, Lạc hỏi Ngọc một câu mà cô không trả lời được ngay.
"Chị nghĩ ông ấy sẽ đọc không?"
"Tôi không biết," Ngọc nói.
"Nếu ông ấy không đọc thì sao?"
"Thì làng này rơi vào nhóm Hai," cô nói. "Cứu được nhưng chưa cứu năm nay."
Cô nhìn ra cửa sổ, về phía làng, nơi có thể thấy ánh đèn lấp ló sau rặng tre.
"Cái khác của làng này với Yên Duyên là ở đây có người," cô nói. "Có đình mở, có hội, có tiền, có cả một ông sẵn sàng bỏ ra hàng trăm triệu mỗi năm. Cái thiếu chỉ là một câu nói."
"Một câu nói khó nói nhất trong tất cả những câu chị đã đi xin người ta nói," Lạc nói.
"Ừ," Ngọc nói. "Vì lần này không phải người ta quên. Người ta nhớ, và người ta xấu hổ vì nhớ."
Chú thích
1. Dịch tả từng nhiều lần bùng phát ở các làng quê Bắc Bộ trước thời hiện đại, gây tử vong hàng loạt trong thời gian ngắn; các làng bị dịch nặng nhiều nơi vẫn còn lưu truyền chuyện về những người ở lại chăm sóc bệnh nhân bất chấp nguy hiểm. 2. Tín ngưỡng thờ nữ thần, trong đó có nhiều vị không gắn với thân phận vợ hay mẹ mà gắn với công đức cá nhân, là một mạch phổ biến trong đời sống tâm linh dân gian Việt, song song với hệ thống thờ các vị nam thần có công trạng quân sự hay hành chính.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 44 →