Vọng ở lại Yên Duyên thêm một đêm.
Anh không nói với ai lý do. Anh chỉ bảo Ngọc là thưa chị tôi ở lại một hôm, và cô để anh ở lại, vì hai tháng nay cô đã học được rằng khi Vọng xin ở lại một chỗ thì bao giờ cũng có việc.
Anh gọi cho cô lúc mười giờ đêm.
"Thưa chị, chị đang ở đâu?"
"Em về Hà Nội rồi. Có chuyện gì không anh?"
Anh im một lúc ở đầu dây bên kia.
"Chị nhớ hôm ở Hạ Sen tôi bảo cái làng ấy im không ạ," anh nói. "Cái đêm tôi về bãi giữa, tôi bảo là bãi im, im bất thường."
"Em nhớ."
"Ở đây thì ngược lại," Vọng nói.
"Ngược lại là sao?"
"Ở đây ồn, thưa chị." Giọng anh chậm và đều, cái giọng anh dùng khi anh đang cố nói cho chính xác. "Tôi ngồi ở cái sân ấy từ chiều tới giờ. Ở đây ồn lắm. Nhiều lắm."
"Nhiều cái gì?"
"Nhiều người," anh nói. "Người của làng này, thưa chị. Bốn trăm năm người của cái làng này. Các cụ vẫn ở đây cả."
Ngọc ngồi thẳng lên.
"Các cụ ấy không đi đâu cả," Vọng nói. "Ruộng bán thì bán, nhà dỡ thì dỡ, con cháu đi thì đi. Còn các cụ thì vẫn ở đúng cái chỗ ấy. Chiều nay tôi ngồi giữa sân và tôi nghe thấy các cụ, và các cụ đông đến mức tôi phải ra ngoài cổng ngồi cho đỡ."
Anh dừng.
"Thưa chị, tôi làm nghề này hai mươi năm. Tôi chưa gặp chỗ nào đông thế mà lại vắng thế."
Ngọc không ngủ được đêm ấy.
Cô nằm nghe con phố Hàng Buồm, và cô ráp lại ba cái mà cô biết.
Lạc bảo: cái hố ở đấy to bằng trăm sáu chục hộ, ba mươi mốt người thì không đủ.
Vọng bảo: bốn trăm năm người của làng vẫn ở đấy cả, và họ đông đến mức anh phải ra ngoài ngồi.
Và cái thứ ba, cái làm cô ngồi dậy lúc hai giờ sáng và bật đèn: hai mươi mốt cái làng bị lấy sắc, và cái nào nó cũng đi qua, và cái này là cái nó không lấy được gì.
Cô mở laptop, mở lại cái bảng của Thư, tìm dòng Yên Duyên.
Cột ghi chú của con bé, viết từ hồi tháng Giêng, có một dòng cô đã đọc lướt qua ngày ấy:
Không tìm được ảnh bảng đá nào của làng này trên mạng. Suy ra: có bảng (logo Trường Tồn trong hồ sơ xã) nhưng không ai chụp đăng bao giờ.
Ngọc ngồi nhìn cái dòng ấy.
Không ai chụp đăng bao giờ.
Vì không có ai đi hội. Vì sáu năm nay không có hội. Vì cái đình ấy khóa cổng, và mỗi năm có đúng một bà cụ tám mươi tư tuổi ra ngồi ngoài bậc thềm từ sáng đến trưa.
Sáng hôm sau cô gọi cả đội tới quán.
"Mình phải đếm lại," cô nói.
"Đếm cái gì ạ?" Thư hỏi.
"Đếm xem trong mười chín cái làng còn tên đọc được, có bao nhiêu cái còn là làng."
Cô lấy tờ giấy ba cột của Thư, đặt lên bàn, và cô vẽ thêm một cột thứ tư bằng bút bi.
"Không phải hộ khẩu," cô nói. "Không phải diện tích. Em đếm ba cái này thôi: một, sáu năm gần nhất làng có làm hội không. Hai, còn ai đứng ra tổ chức được không. Ba, đình còn mở cửa được vào ngày hội không."
Thư hiểu ngay. Con bé mở máy ra, và trong lúc gõ nó nói:
"Chị ơi em thấy sợ."
"Sợ gì?"
"Em sợ là ra nhiều ạ."
Mất hai ngày.
Thư gọi bốn mươi mốt cuộc, viết mười tám cái thư điện tử cho ủy ban các xã, và sang tận ba nơi.
Chiều mười lăm tháng Ba, con bé trải kết quả ra bàn.
"Mười chín làng ạ," nó nói. "Em xếp làm ba nhóm."
Nó chỉ vào cột đầu.
"Nhóm một: chín làng. Vẫn làm hội đều, có ban khánh tiết, đình mở. Mấy làng này chỉ cần đưa cái tên xuống, giải thích cho các cụ, rồi đợi đến ngày hội. Giống Thượng Cát."
"Nhóm hai?"
"Sáu làng ạ. Có hội nhưng teo. Làm hai năm nghỉ một năm, hoặc gộp hội với xã, hoặc không còn đội tế. Mấy làng này còn cứu được nhưng phải mất công."
"Nhóm ba?"
Thư ngẩng lên.
"Bốn làng," nó nói. "Yên Duyên, với ba làng nữa. Không còn hội, không còn người tổ chức, dân ly tán."
Con bé đẩy tờ giấy sang.
"Ba làng kia em xem qua thì một cái lên phường rồi, hội gộp vào lễ hội quận. Một cái còn hai mươi mấy hộ, toàn người già. Còn một cái thì... chị ơi cái làng ấy bị nước lòng hồ ngập từ năm bảy tám, dân di dân đi ba tỉnh. Cái đình dời lên đồi, còn nguyên, không ai trông."
Cả bàn im rất lâu.
"Bốn trên mười chín," Lạc nói.
"Vâng."
"Cộng với hai cái mất phiếu là hai mươi mốt." Anh gõ ngón tay. "Vậy là trong hai mươi mốt cái cửa, có sáu cái mình không đóng được. Không phải vì không biết tên. Vì không có ai để mà gọi."
"Đúng ạ," Thư nói.
Trọng ngồi thẳng lên.
"Em không hiểu ạ," cậu nói. "Nếu không còn ai gọi thì cái tên ấy trống. Mà cái tên trống thì nó vào được. Nghĩa là sáu cái làng ấy..."
"Nghĩa là sáu cái ấy để mở," Ngọc nói.
"Mở đến bao giờ ạ?"
"Đến khi có người ở đấy trở lại," cô nói. "Hoặc mãi mãi."
Đêm ấy Ngọc ngồi ở quán một mình với quyển sổ bìa da.
Cô lật đến trang cô đã viết ở Yên Duyên, cái trang có dòng cái này là không còn ai để mà gọi, và cô đọc lại.
Rồi cô lật sang trang mới và cô viết.
Làng 2/19: Yên Duyên, 12 tháng Ba. Ba mươi mốt người đọc. Lạc bảo có động nhưng không đầy. CHƯA XONG.
Cô đặt bút xuống, ngồi nhìn hai chữ cuối một lúc lâu.
Rồi cô cầm bút lên viết tiếp, và lần này cô viết nhanh, vì cô đã nghĩ suốt hai hôm và bây giờ nó ra thành chữ.
Mình vẫn tưởng việc của mình là mang một cái tên đi trả.
Không phải. Trả tên là cái dễ. Cái tên nằm trong một tập phiếu ở Hà Nội, ai xin cũng đọc được.
Cái khó là phải có một cái làng đứng đấy để mà nhận.
Bốn cái làng kia không thiếu tên. Chúng nó thiếu người. Và cái ấy thì mình không lấy ở trong kho ra được.
Cô gấp sổ.
Rồi cô mở điện thoại, tìm cái nhóm mà Thư đã lập ở sân đình Yên Duyên sáng mười hai tháng Ba, cái nhóm hai mươi ba người.
Từ hôm ấy tới giờ nhóm đã có bốn mươi bảy người.
Trong nhóm, bác Hoạch vừa đăng một cái ảnh chụp bậc thềm cổng đình, kèm mấy chữ:
Bà con ơi, sang năm mười hai tháng Ba ta lại về nhé. Năm nay ba mươi mốt người. Sang năm ta rủ nhau đông hơn.
Bên dưới có mười chín cái biểu tượng ngón tay cái.
Ngọc nhìn cái ảnh ấy rất lâu.
Rồi cô gõ vào ô soạn tin, và cô gõ đi gõ lại ba lần mới ưng.
Cháu là Ngọc, cháu ở hội Nêu, cháu có xuống dự với các bác hôm mười hai. Sang năm cháu lại xuống ạ. Bác Hoạch cho cháu góp một chân.
Cô gửi.
Rồi cô tắt đèn quán, kéo cửa cuốn xuống, và cô đứng một lúc trong bóng tối nghe con phố của mình.
Còn mười bảy làng. Cái tiếp theo là rằm tháng Ba, làng Phù Xá, còn hai hôm.
Và ở Yên Duyên, dưới cái sân gạch bát giữa khu đô thị, cái hố to bằng một trăm sáu mươi hộ vẫn để đấy, và bốn trăm năm người của làng ấy vẫn ngồi quanh nó, đông đến mức một người làm nghề hai mươi năm phải ra ngoài cổng ngồi cho đỡ.
Chú thích
1. Nhiều làng ở miền Bắc phải di dời toàn bộ khi xây các hồ thủy lợi và thủy điện trong thập niên 1970 và 1980; đình, chùa của làng trong một số trường hợp được dời lên cao trước khi nước dâng, còn dân thì tái định cư phân tán ở nhiều nơi. 2. Hình thức gộp hội làng vào lễ hội cấp phường, quận là thực tế ở nhiều nơi sau khi làng chuyển thành tổ dân phố; quy mô lễ hội thường lớn hơn, nhưng phần nghi thức riêng của từng làng bị giản lược.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 43 →