Cổng đình mở được là nhờ ông dắt chó.
Ông tên là Tạo, và hóa ra ông là tổ phó tổ dân phố, và hóa ra ông chơi cờ tướng với anh đội trưởng bảo vệ mỗi tối thứ Bảy ở cái chòi ngoài cổng khu.
Ngọc sang nhà ông tối mười một, mang theo tờ phiếu năm ba tám.
Ông đọc.
Ông đọc chậm, và ông đọc đúng cái đoạn về bà Thành hoàng dạy dân đắp bờ giữ nước ngọt để cấy được vụ chiêm ở đất trũng nhiễm mặn, và đến đấy thì ông đặt tờ giấy xuống.
"Ruộng nhà tôi ở chỗ cô ngồi hôm kia ấy," ông nói. "Trũng thối. Một năm ăn một vụ."
Ông ngồi im.
"Thế mà ngày xưa có người phải đắp bờ cho nó cấy được," ông nói.
Ông đứng dậy, với cái áo khoác treo ở cửa.
"Cô ngồi đây tôi ra tôi bảo thằng Dũng."
Bảy giờ sáng mười hai tháng Ba, cổng đình mở.
Người đến thì đến rải rác từ sáu giờ.
Bà Lự tới đầu tiên, mang cái khay nhôm, đĩa xôi, quả trứng luộc, nải chuối. Bà đi đến bậc thềm quen thuộc thì dừng lại, vì cổng mở, và bà đứng đấy nhìn cái cổng mở một lúc lâu trước khi bước qua.
Ông Kiểm tám mươi tuổi, con trai chở bằng xe máy.
Bác Hoạch từ Đông Anh, đi xe khách xuống từ năm giờ, dẫn theo ba nhà nữa, tổng cộng chín người.
Chín hộ trong khu đô thị, đi bộ ra, có nhà đi cả nhà, có nhà chỉ một người.
Hai vợ chồng ở Hà Nam thuê taxi đi từ ba giờ sáng.
Một chị ở Long Biên, xin nghỉ làm nửa buổi.
Một anh chừng bốn mươi, không ai biết là ai, đứng ở góc sân, mãi đến trưa mới có người nhận ra là con nhà ông Chắt xóm dưới ngày xưa.
Thư đếm.
Ba mươi mốt người.
Không có đội tế. Không có áo thụng. Không có chiêng trống, không có phường bát âm, không có cỗ.
Có một cái sân gạch bát mòn lõm, quét vội bằng cái chổi Lạc mượn ở chòi bảo vệ.
Có bốn cái mâm lễ, gộp từ những gì người ta mang theo: xôi bà Lự thổi, một con gà luộc nhà ông Tạo, hoa quả mua ở cửa hàng tiện lợi, và một hộp bánh quy mà ai đó mang tới vì không biết mang gì.
Có ba bó hương.
Ông Kiểm làm chủ tế, vì ông là người già nhất còn biết trình tự. Ông không có áo the. Ông mặc áo sơ mi trắng, quần âu, và ông đi tất trong đôi giày da đã cũ.
Ông đứng trước hương án, và ông vái, và ông cất giọng.
Giọng ông rất yếu.
Ông đọc được chừng hai mươi chữ thì hụt hơi, phải dừng lại thở. Con trai ông định bước lên đỡ, ông xua tay.
Ông đọc tiếp.
Không có văn tế viết sẵn. Ông đọc thuộc, và ông đọc thiếu, và có mấy chỗ ông đảo ngược trước sau. Không ai sửa ông.
Rồi ông đến chỗ xưng danh.
Ông ngừng.
Ba mươi mốt con người trong cái sân đình ấy im.
Ngoài kia, cách bức tường gạch chừng hai chục mét, có tiếng một cái xe rác đi qua, tiếng loa phường một khu nào đó, tiếng ai đó gọi con đi học.
Ông Kiểm quay xuống sân.
"Bà con đọc cùng tôi," ông nói.
Ngọc đứng ở cuối sân, cạnh Thư, và cô thấy Thư nắm lấy tay cô.
Ông Kiểm đọc trước một lần.
Rồi cả sân đọc theo.
Ba mươi mốt người, ở giữa một khu đô thị, trong một cái sân gạch có bốn cây cột đồng trụ và bốn phía là tường sau của nhà liền kề, cùng đọc lên tước hiệu của một người đàn bà đã dạy dân làng họ đắp bờ giữ nước ngọt cách đây không biết bao nhiêu đời.
Họ đọc ba lần.
Lần thứ ba thì bà Lự khóc, và bà khóc không thành tiếng, chỉ có vai bà rung.
Xong lễ, người ta ngồi lại ăn.
Không có cỗ nên người ta ăn xôi với gà, chia ra mấy cái đĩa giấy, ngồi bệt xuống bậc thềm và trên mấy cái ghế nhựa mượn của chòi bảo vệ.
Và trong hai tiếng đồng hồ ấy, cái sân đình Yên Duyên đông vui theo cái kiểu mà Ngọc chỉ nhìn thấy ở đám giỗ.
Người ta hỏi nhau nhà cửa, con cái, bệnh tật. Người ta nhận ra nhau. Có hai bà ôm nhau khóc vì mười năm không gặp. Có một ông chỉ ra bức tường nhà liền kề và bảo là chỗ kia ngày xưa là ao nhà tôi, tôi tát ao bắt được con trắm bảy cân.
Bác Hoạch từ Đông Anh xin số điện thoại của mọi người.
Ai đó đề nghị lập một cái nhóm trên điện thoại. Thư giúp lập. Hai mươi ba người vào nhóm ngay tại chỗ.
Trọng đứng ở góc sân nhìn cảnh ấy, và cậu quay sang Ngọc, mặt sáng bừng.
"Chị ơi được rồi đấy chị."
Ngọc gật đầu.
Cô đang tìm Lạc.
Cô tìm thấy anh ở phía sau đình, chỗ khuất, giữa bức tường hậu cung và hàng rào sắt của dãy nhà liền kề.
Anh đang ngồi xổm, cả hai bàn tay áp xuống nền gạch.
Anh ngồi như thế rất lâu. Ngọc đứng đợi, không hỏi.
Rồi anh đứng dậy, phủi tay, và anh không nhìn cô.
"Anh Lạc."
"Tôi nghe rồi, chị," anh nói.
"Sao?"
Anh im.
"Anh nói đi."
Lạc quay lại.
"Chị Ngọc, ở Thượng Cát ấy," anh nói. "Lúc năm sáu trăm người đọc, tôi đứng ở gốc bàng, tôi để tay xuống đất. Cái rễ dưới đấy nó đầy lên. Tôi cảm được. Như cái giếng khô mà mình đổ nước vào."
"Còn ở đây?"
Anh nhìn xuống nền gạch.
"Có động," anh nói. "Có thật. Tôi không nói dối chị. Lúc ba mươi mốt người đọc thì nó có động."
"Nhưng?"
"Nhưng nó không đầy," Lạc nói. "Nó chỉ ướt ở đáy. Rồi ngấm hết."
Anh nhổ toẹt xuống đất.
"Cái hố ở đây nó to bằng trăm sáu chục hộ, chị ạ. Ba mươi mốt người thì không đủ."
Ngọc đứng đấy một lúc lâu.
Từ phía sân trước vọng lại tiếng cười. Tiếng bà Lự đang mắng yêu ai đó ăn ít quá. Tiếng bác Hoạch đọc số điện thoại cho người ta lưu.
"Anh nói với ai chưa?" cô hỏi.
"Chưa."
"Đừng nói."
Lạc ngẩng lên.
"Chị bảo tôi giấu?"
"Không." Ngọc nhìn ra phía sân. "Anh nói với tôi, thế là đủ. Cái này là việc của tôi."
"Chị định làm gì?"
"Chưa biết," cô nói.
Cô đứng im, nghe tiếng người ở sân trước.
"Nhưng anh nghe tôi nói cái này, anh Lạc. Ba mươi mốt người kia sáng nay đọc được tên ngài. Bà Lự sáu năm nay ngồi một mình ngoài bậc cửa, hôm nay bà ấy được vào trong. Hai bà cụ vừa ôm nhau khóc vì mười năm không gặp."
Cô quay lại nhìn anh.
"Cái ấy có thật, đúng không?"
"Có."
"Vậy thì tôi không đứng ra tôi bảo họ là chưa đủ," Ngọc nói. "Tôi không có quyền ấy."
Chú thích
1. Trong tế lễ đình làng, khi làng không còn đủ người lập đội tế theo lệ, người cao tuổi nhất còn nhớ trình tự thường đứng ra hành lễ thay; đây là cách nhiều làng đã mất đội tế vẫn duy trì được ngày hội. 2. Việc lập nhóm liên lạc trên điện thoại giữa những người gốc cùng một làng đã ly tán là cách phổ biến hiện nay để duy trì việc giỗ tổ, việc họ và hội làng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 42 →