Bà Lự tám mươi tư tuổi, ở nhà số bốn mươi mốt, và bà là người duy nhất trong khu đô thị ấy còn nhớ ngày hội.

Ngọc tìm được bà nhờ ông dắt chó chỉ. Ông bảo bà cụ ấy khó tính lắm, cô liệu mà nói.

Bà mở cửa, nhìn cô từ đầu đến chân qua khe cửa sắt.

"Cô bán gì?"

"Cháu không bán gì ạ. Cháu muốn hỏi bà về cái đình."

Bà cụ đứng im ba giây.

Rồi bà mở cửa.

Nhà bà Lự bốn tầng, và bà ở tầng một, và tầng một ấy bà ngăn ra bằng mấy cái tủ để làm thành một gian như nhà cũ: có phản, có bàn thờ, có cái chạn gỗ. Ba tầng trên bà cho thuê.

Bà rót nước cho Ngọc bằng cái ấm tích sứt vòi.

"Cô hỏi cái gì về đình?"

"Cháu nghe nói sáu năm nay làng không làm hội ạ."

"Không làm." Bà cụ ngồi xuống phản. "Không ai làm."

"Bà có ra đình ngày mười hai tháng Ba không ạ?"

Bà Lự nhìn cô.

Cái nhìn ấy sắc, và Ngọc hiểu ngay là bà cụ này chưa bao giờ nói chuyện ấy với ai.

"Cô nghe ai nói?"

"Cháu không nghe ai ạ. Cháu đoán."

"Đoán làm sao?"

"Vì bà nhớ ngày," Ngọc nói.

Bà Lự ra đình đúng ngày mười hai tháng Ba, sáu năm liền.

Bà kể chuyện ấy rất gọn, cái kiểu của người kể một việc mình vẫn coi là bình thường.

Bà dậy sớm, thổi một đĩa xôi, luộc một quả trứng, mua một nải chuối. Bà bày vào cái khay nhôm. Bà đi bộ ra đình, chừng bốn trăm mét, đi chậm nên mất mười lăm phút.

Cổng khóa. Bà không xin mở, vì xin thì phải sang ban quản lý làm giấy, mà bà ngại.

Nên bà đặt khay xuống bậc thềm ngoài cổng, thắp ba nén hương cắm vào cái chai nhựa cắt đôi đổ cát mà bà mang theo, và bà đứng vái.

Rồi bà ngồi xuống bậc thềm.

"Ngồi bao lâu ạ?" Ngọc hỏi.

"Đến trưa."

"Bà ngồi đấy đến trưa làm gì ạ?"

Bà cụ nhìn ra cửa.

"Ngày xưa hội thì từ sáng đến tối," bà nói. "Tôi ngồi cho nó có người."

Ngọc phải cúi xuống uống nước để bà cụ khỏi nhìn thấy mặt mình.

"Bà ơi," cô nói. "Ngài tên gì ạ?"

Và bà Lự đọc.

Bà đọc ngay, không nghĩ, đọc trơn tru, đọc cả tước hiệu lẫn mỹ tự, dài hơn cái mà Ngọc đọc được trong phiếu năm ba tám.

Ngọc lấy điện thoại ra ghi âm và xin bà đọc lại lần nữa.

Bà đọc lại.

"Bà học ở đâu ạ?"

"Học cái gì?" Bà cụ ngơ ra. "Năm nào chả nghe. Từ bé đã nghe. Bố tôi làm chủ tế ba khóa."

"Trong làng còn ai đọc được không ạ?"

Bà Lự nghĩ.

Bà nghĩ lâu, và Ngọc ngồi đợi, và trong lúc đợi cô nhìn cái bàn thờ nhà bà cụ, cái bàn thờ có ba tấm ảnh và một bát hương và một lọ hoa cúc đã héo.

"Ông Kiểm," bà nói. "Ông ấy tám mươi. Ông ấy biết."

"Còn ai nữa ạ?"

"Cái Hường, nhưng nó vào Nam rồi." Bà cụ đếm. "Thằng Hoạch nhà ông Hoạch, nó ngoài sáu mươi, nó biết. Nó sang Đông Anh."

"Còn ai ở ngay đây không ạ?"

Bà Lự ngồi im.

"Không," bà nói. "Ông Kiểm với tôi."

Đội xuống chiều mùng chín.

Ngọc chia việc ngay tối hôm ấy, và cô chia theo cái mà mỗi người làm giỏi nhất, không theo chức.

Thư ngồi máy: lần ra danh sách hộ khẩu cũ của làng qua hồ sơ giải phóng mặt bằng lưu ở ủy ban phường, rồi dò từng cái tên, xem ai còn ở đâu.

Trọng đi Đông Anh tìm nhà ông Hoạch, vì cậu có xe và cậu chịu được đường xa.

Lạc ở lại, đi bộ khắp khu đô thị, gõ cửa từng nhà một trong danh sách bà Lự đọc ra.

Vọng đi cùng bà Lự sang nhà ông Kiểm.

Còn Ngọc thì sang ban quản lý khu đô thị xin chìa khóa.

Cái ban quản lý ấy ở tầng một một tòa nhà, có quầy lễ tân, có logo dán tường, có ba cái ghế chờ.

Cô gái ở quầy nghe cô trình bày xong thì gọi điện cho ai đó, nói mấy câu, rồi quay lại.

"Chị ơi cái này phải có đơn ạ."

"Vâng, em cho chị xin cái mẫu đơn."

"Đơn của tổ dân phố ạ." Cô bé nói. "Chị làm đơn, tổ trưởng ký xác nhận, rồi bên em trình lên ban giám đốc. Bình thường ba ngày."

"Ba ngày là đúng ngày hội," Ngọc nói. "Em ơi, chị hỏi thật, có cách nào nhanh hơn không?"

Cô bé nhìn quanh, rồi hạ giọng.

"Chị ơi, thật ra rằm với mùng một là bên em mở cửa cho bà con vào lễ. Chị đợi đến rằm được không ạ? Rằm này là mười lăm."

"Hội là mười hai."

"Ơ..." Cô bé bối rối. "Sao lại mười hai ạ?"

"Vì hội làng nó là mười hai."

Cô bé ngồi im một lúc.

"Em xin lỗi chị," cô nói. "Em làm ở đây hai năm rồi mà em không biết cái đình ấy có hội."

Tối mùng mười, cả đội ngồi lại ở phòng nhà nghỉ.

Thư báo trước.

"Em dò được một trăm linh sáu hộ ạ," con bé nói. "Trong đó xác định được chỗ ở hiện tại của tám mươi mốt hộ. Còn hai mươi lăm hộ em không tìm ra."

"Tám mươi mốt hộ ấy ở đâu?"

Thư xoay màn hình.

"Đông Anh mười một hộ. Trong khu này chín hộ. Hà Nam bốn. Trong Nam mười bảy. Còn lại rải khắp Hà Nội, mỗi nơi một nhà."

"Có số điện thoại không?"

"Có bốn mươi hai số ạ. Em gọi từ chiều đến giờ được ba mươi mốt cuộc."

Cả phòng im.

"Rồi sao?" Lạc hỏi.

Thư nhìn xuống sổ.

"Mười một người bảo là bận không về được ạ. Chín người bảo là để xem. Bốn người hỏi lại em là ai, em giải thích xong thì họ tắt máy. Ba người bảo là làng bán rồi thì còn hội gì nữa."

"Còn bốn người?"

"Bốn người bảo là sẽ về," Thư nói.

Con bé ngẩng lên, và mắt nó đỏ.

"Chị ơi, em gọi cho một bác ở trong Nam, bác ấy nghe xong bác ấy khóc ở đầu dây. Bác ấy khóc mất năm phút. Rồi bác ấy bảo là cháu ơi bác bảy mươi rồi, bác không đi máy bay một mình được."

Trọng về lúc gần mười một giờ đêm, mặt sạm vì đi đường.

"Em gặp bác Hoạch rồi ạ," cậu nói. "Bác ấy nhận. Bác ấy bảo bác ấy về, mà bác ấy còn rủ được thêm ba nhà bên Đông Anh."

Cậu ngồi xuống, uống một hơi hết cốc nước.

"Nhưng chị ơi, có một chuyện."

"Nói đi."

"Bác Hoạch hỏi em là về thì làm gì." Trọng nhìn xuống. "Em bảo là về để tế, để xưng danh ngài. Bác ấy hỏi lại là tế ở đâu. Em bảo ở đình. Bác ấy bảo là đình khóa thì tế thế nào."

Cậu ngẩng lên.

"Rồi bác ấy hỏi em một câu mà em không trả lời được ạ."

"Câu gì?"

"Bác ấy bảo: thế sang năm thì ai gọi?"

Chú thích

1. Việc ra vào di tích nằm trong khuôn viên các khu đô thị do đơn vị quản lý dự án nắm giữ chìa khóa là tình trạng phổ biến; lịch mở cửa thường theo ngày rằm, mùng một chứ không theo lịch hội riêng của làng gốc. 2. Hồ sơ giải phóng mặt bằng lưu tại ủy ban phường có danh sách hộ dân bị thu hồi đất, là một trong số ít nguồn còn ghi lại thành phần dân cư của làng trước khi dự án triển khai.

Hết Chương 40
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 41 →
← TrướcTiếp →