Yên Duyên vào hội mười hai tháng Ba, tức là năm hôm sau Thượng Cát, và Ngọc xuống đấy mùng chín.
Cô đi một mình buổi đầu. Cô muốn xem cái làng trước khi cả đội kéo xuống, vì bài học Thượng Cát dạy cô một điều: mỗi làng là một cái khác hẳn, và bốn người kéo vào cùng lúc thì làng nhìn mình như đoàn kiểm tra.
Cô bắt xe buýt, xuống ở một cái điểm dừng không có tên làng, rồi đi bộ theo bản đồ trong điện thoại.
Đi được tám phút thì cô dừng lại giữa đường, và cô mở lại bản đồ, và cô kiểm tra ba lần.
Cô đã tới nơi.
Cái đình vẫn còn.
Nó nằm ở đấy, mái ngói rêu, bốn cây cột đồng trụ, sân gạch bát, y như mọi cái đình cô đã thấy trong hai tháng qua.
Chỉ có điều xung quanh nó, bốn phía, là một khu đô thị.
Nhà liền kề bốn tầng, cùng một mẫu, sơn cùng một màu kem, hàng rào sắt sơn đen, cây xanh trồng thẳng hàng trong bồn xi măng. Đường nhựa mới, vỉa hè lát đá granite xám, đèn cao áp kiểu cổ giả. Có một cái biển hiệu phòng khám nha khoa. Có một cửa hàng tiện lợi sáng đèn.
Cái đình bốn trăm tuổi ngồi giữa cái ấy như một hòn đá còn sót lại sau khi người ta san đồi.
Từ cổng đình nhìn ra, cách chừng hai chục mét, là bức tường sau của một dãy nhà liền kề. Cô đi vòng quanh. Ba phía đều thế. Phía thứ tư là mặt đường.
Không có ao. Không có luỹ tre. Không có cây gạo, cây đa, cây muỗm nào. Không có nhà dân nào ở gần hơn hai chục mét.
Cổng đình khóa.
Ngọc ngồi ở cái ghế đá gần cửa hàng tiện lợi và cô ngồi đấy gần một tiếng.
Cô đếm người đi qua cổng đình.
Trong một tiếng có bốn mươi mấy người đi qua. Có người đi tập thể dục. Có mấy chị đi chợ về. Có một ông đi dắt chó. Có ba đứa trẻ con đạp xe.
Không ai nhìn vào cổng đình lấy một lần.
Cô vào cửa hàng tiện lợi mua một chai nước, và cô hỏi cô bé đứng quầy.
"Em ơi, cái đình ngoài kia của làng nào thế em?"
Cô bé ngẩng lên, nhìn ra ngoài cửa kính, rồi quay lại.
"Em không biết chị ạ. Em ở Thái Nguyên xuống, em mới làm ở đây bốn tháng."
Người trả lời được cho cô là ông dắt chó.
Ông chừng sáu mươi, mặc quần thể thao, đi giày, và ông đang đứng đợi con chó ở gốc cây đầu ngõ.
"Đình Yên Duyên chứ đình gì," ông nói. "Cô hỏi làm gì?"
"Cháu tìm hiểu về mấy cái đình cổ ạ. Bác là người làng à?"
"Tôi là người làng." Ông kéo dây chó. "Nhà tôi ở đây từ đời ông nội tôi. Chỗ cô đang đứng ngày xưa là ruộng nhà tôi."
"Bây giờ bác ở đâu ạ?"
"Vẫn đây." Ông chỉ vào một cái nhà liền kề. "Kia kìa. Nhà số hai mươi ba."
Ngọc nhìn cái nhà bốn tầng sơn màu kem.
"Bác bán ruộng rồi mua lại nhà ở đây ạ?"
"Ừ." Ông cười. "Nghe buồn cười nhỉ. Nhưng mà tính ra thì được. Hồi ấy đền bù xong, tôi mua hai cái, một cái ở, một cái cho thuê. Con tôi nó lấy vợ có sẵn nhà."
Ông ngồi xuống ghế đá cạnh cô, thoải mái, cái kiểu người rỗi.
"Cô đừng nghe mấy người kêu ca," ông nói. "Làng này bán là đúng. Ruộng thì trũng, một năm ăn được một vụ, năm nào mưa to là mất trắng. Bọn trẻ đi hết. Không bán thì để đấy làm gì."
"Bao nhiêu người bán ạ?"
"Cả làng."
Đó là chỗ Ngọc bắt đầu hiểu ra vấn đề.
"Cả làng ở lại đây hết ạ?"
"Không, có ai ở lại đâu." Ông xua tay. "Bọn tôi được suất mua ưu đãi, nhưng có mấy nhà mua đâu. Đắt. Người ta cầm tiền rồi đi."
"Đi đâu ạ?"
"Tùm lum." Ông bắt đầu đếm bằng ngón tay. "Nhà ông Hoạch với mấy nhà nữa mua đất bên Đông Anh, rẻ hơn, được rộng. Nhà bà Tít với cái Hường thì vào trong Nam với con. Mấy nhà thanh niên thì lên phố thuê, gần chỗ làm. Nhà cô Nhàn thì về quê chồng ở Hà Nam."
"Còn bao nhiêu nhà ở lại đây ạ?"
Ông nghĩ.
"Ở ngay khu này thì... tôi, nhà ông Kiểm, nhà bà Lự, nhà thằng Toàn." Ông đếm lại. "Bốn. Với mấy nhà nữa ở bên kia đường, chắc năm sáu nhà."
"Ngày xưa làng bao nhiêu hộ ạ?"
"Trăm sáu."
Ngọc ngồi im.
Cô nhìn ra cái đình, cái mái ngói rêu giữa những nóc nhà kem cùng một mẫu.
"Bác ơi," cô nói. "Làng mình vẫn làm hội chứ ạ?"
Ông ngồi im một lúc.
"Sáu năm nay không làm," ông nói.
"Sao lại không ạ?"
"Ai làm?" Ông nhún vai, và cái nhún vai ấy không phải vô tâm, nó là cái nhún vai của người đã nghĩ về chuyện này rồi và không tìm ra cách. "Làm hội thì phải có ban khánh tiết, phải có đội tế, phải có người đứng ra thu tiền, phải có người nấu cỗ. Ngày xưa cái ấy là việc làng, ai cũng có phần. Bây giờ tôi gọi ai?"
Ông chỉ ra khu nhà.
"Nhà bên cạnh tôi là một cặp vợ chồng trẻ ở Nam Định ra, mua nhà năm ngoái. Nhà đối diện là người ta mua để cho thuê, thuê cho mấy đứa sinh viên. Tôi ra tôi bảo là các cháu ơi mùng mười hai tháng Ba làng mình có hội thì chúng nó nhìn tôi thế nào?"
"Làng mình" của ai, ông nói cái ấy rất khẽ, gần như là với chính mình.
"Chìa khóa cổng đình ai giữ ạ?" Ngọc hỏi.
"Ban quản lý khu đô thị," ông nói. "Người ta có bảo vệ. Rằm với mùng một người ta mở cho bà con vào thắp hương. Ngày thường khóa, sợ nghiện nó vào."
Chiều hôm ấy Ngọc gọi cho Thư từ cái ghế đá.
"Em đọc lại phiếu năm ba tám của Yên Duyên cho chị nghe."
Thư đọc.
Vị Thành hoàng của Yên Duyên là một bà. Bà có tên. Thần tích chép bà là người bản quán, có công dạy dân đắp bờ giữ nước ngọt để cấy được vụ chiêm ở vùng đất trũng nhiễm mặn, và có công chia lại ruộng công cho dân nghèo. Làng lập đình thờ. Có ba đạo sắc.
"Chị ơi cái làng này dễ ạ," Thư nói, và giọng con bé phấn khởi. "Tên rõ, thần tích rõ, không có tranh chấp họ nào, không ai cãi. Bảng đá ngoài cổng thì ghi chung chung, nhưng chỉ cần đưa phiếu ra là xong. Em thấy dễ hơn Thượng Cát nhiều ạ."
Ngọc ngồi trên ghế đá, nhìn ra cái đình khóa cổng giữa khu đô thị.
"Thư ơi," cô nói.
"Dạ."
"Chị hỏi em cái này. Cái tên ấy, muốn nó chật lại thì phải có bao nhiêu người gọi?"
Đầu dây bên kia im.
"Em không biết ạ," Thư nói. "Bible... ý em là, mình chưa bao giờ đo. Ở Voi Phục là hai nghìn. Ở Thượng Cát là năm sáu trăm."
"Nếu là mười người thì sao?"
"Chị ơi..."
"Chị hỏi thật," Ngọc nói. "Mười người có đủ không?"
Thư im rất lâu.
"Em nghĩ là cái quan trọng không phải số ạ," con bé nói chậm. "Cái quan trọng là có phải một cái làng gọi không. Nếu mười người ấy là cả cái làng còn lại thì em nghĩ là đủ."
"Còn nếu mười người ấy chỉ là mười người còn sót lại của một cái làng đã tan?"
Thư không trả lời được.
Tối, ở nhà nghỉ ngoài mặt đường, Ngọc mở quyển sổ bìa da ra và cô ngồi rất lâu trước cái trang trắng.
Rồi cô viết.
Yên Duyên. Trăm sáu hộ. Bán hết. Còn khoảng mười nhà ở lại, ở trong nhà liền kề, không cạnh nhau.
Sáu năm không hội.
Đình còn nguyên. Cổng khóa. Chìa ở ban quản lý.
Cô dừng bút.
Rồi cô viết thêm một dòng nữa, và viết xong thì cô ngồi nhìn nó.
Cái này không phải quên. Cũng không phải bỏ. Cái này là không còn ai để mà gọi.
Chú thích
1. Nhiều đình, chùa, miếu cổ ở vùng ven Hà Nội hiện nằm lọt giữa các khu đô thị mới xây trên đất nông nghiệp đã chuyển đổi; di tích được giữ lại theo quy định nhưng không gian làng xung quanh thì không còn. 2. Ở các dự án thu hồi đất nông nghiệp, người dân thường được đền bù bằng tiền kèm suất mua nhà ưu đãi trong chính dự án; trên thực tế tỷ lệ hộ dân gốc ở lại các khu đô thị này thường thấp.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 40 →