"Còn hòm sắc thì sao ạ?" Thư hỏi.
Ông Tuấn dẫn họ ra gian bên. Hòm sắc để trên một cái giá gỗ cao ngang ngực, phủ vải điều. Ông vén vải lên, và Ngọc thấy một cái hòm gỗ dài chừng bảy tám mươi phân, sơn đã bong lỗ chỗ ở góc, và ở khóa có một sợi dây thép mảnh xoắn lại, kiểu người ta niêm phong tạm.
"Hai năm nay không mở," ông Tuấn nói.
"Sao lại không mở ạ?" Ngọc hỏi. "Cháu tưởng hội thì phải rước sắc ra."
"Ừ thì đúng là phải rước." Ông Tuấn gãi gáy. "Nhưng năm kia có cái đoàn về khảo sát, mấy anh chị ấy bảo là giấy sắc phong quý lắm, mỗi lần mở ra là hỏng một ít, ánh sáng với hơi người nó ăn vào giấy. Các anh chị ấy bảo bây giờ người ta bảo quản kiểu mới rồi, cứ để nguyên trong hòm, muốn xem thì xem ảnh chụp. Các anh chị ấy chụp cho làng một bộ ảnh, in ra rất đẹp, đóng thành quyển, để ở nhà văn hóa. Ai muốn xem thì sang đấy."
Ngọc không nói gì. Thư thì đã lấy sổ ra ghi.
"Cái đoàn ấy tên gì ạ?"
"Có đấy," ông Tuấn nói, và ông có vẻ mừng vì cuối cùng cũng có một câu ông trả lời được. "Cái này tôi nhớ vì có giấy tờ hẳn hoi, còn lưu ở ủy ban. Công ty cổ phần Bảo tồn và Phát triển Di sản Trường Tồn."
Lạc, đứng ở cửa, ngẩng lên.
"Họ tài trợ luôn cho làng đảo lại ngói với thay mấy cái xà bị mọt," ông Tuấn nói tiếp, không để ý. "Không lấy đồng nào. Làm cẩn thận lắm, cô ạ, thợ họ đưa từ đâu về, làm ba tháng. Xong họ còn tặng cả cái bảng giới thiệu di tích dựng ngoài cổng cho khách vào xem biết."
"Bảng nào ạ?" Ngọc hỏi.
Ông Tuấn dẫn họ ra cổng.
Cái bảng bằng đá granite đen, chân inox, chắc chắn, đẹp, sạch sẽ, cái loại bảng người ta dựng ở mọi khu du lịch. Trên đó khắc chữ vàng.
ĐÌNH HẠ SEN
Di tích lịch sử văn hóa. Khởi dựng thời Lê. Trùng tu các năm...
Đình thờ Đức Ông bản cảnh Thành hoàng, vị thần bảo hộ của làng, có công che chở dân làng qua nhiều đời.
Ngọc đọc hết cái bảng, rồi đọc lại lần nữa. Rồi cô quay sang Thư.
"Em thấy gì?"
"Em thấy cái bảng này viết đúng ngữ pháp," Thư nói chậm. "Đúng ngữ pháp, đúng chính tả, đúng thể thức, và nó không nói cái gì cả. Chị đọc lại xem. Nó không có một cái dữ kiện nào. Không tên, không họ, không niên đại, không quê, không công trạng cụ thể. Nó chỉ có 'nhiều đời' với 'che chở'."
Con bé quay sang ông Tuấn.
"Bác ơi, cái bảng này dựng năm nào ạ?"
"Năm kia."
"Trước hay sau khi làng đổi ngày hội ạ?"
Ông Tuấn nghĩ.
"Trước," ông nói. "Dựng bảng xong độ hai tháng thì họp làng bàn chuyện đổi ngày."
Ngọc bảo Thư ở lại đình với ông Tuấn để hỏi cho hết, còn cô với Lạc đi vòng quanh làng.
Cô muốn xem cái làng chứ không phải cái đình. Cô lớn lên ở phố, nhưng cái nghề bán nước dạy cô một việc, là ngồi im và nhìn người ta đi qua, và cô nhận ra rằng muốn biết một chỗ có chuyện gì thì đừng hỏi người có trách nhiệm, hãy nhìn người không có trách nhiệm gì cả.
Làng bình thường. Đó là cái làm cô khó chịu.
Trẻ con đá bóng ở sân kho. Một bà cụ ngồi nhặt rau ở bậc cửa, thấy người lạ thì ngẩng lên nhìn, chào, rồi lại cúi xuống nhặt. Một nhà đang gọi nhau ăn cơm. Chó sủa. Có mùi cá kho. Không có cái gì lệch cả. Không có cái lạnh, không có cái nặng, không có cái ngột mà Ngọc đã học được cách nhận ra ở những chỗ bị đụng vào.
"Anh Lạc, anh nghe được gì không?"
"Vẫn thế. Cái hố ấy nằm đúng dưới đình, không lan ra." Lạc dắt xe đi bộ bên cạnh cô. "Chị Ngọc này, tôi nói cái này chị đừng cười. Tôi thấy giống một cái răng bị lấy tủy."
"Sao?"
"Cái răng ấy," Lạc nói. "Nhìn ngoài y nguyên. Nhai vẫn được. Chỉ có bên trong là người ta khoét đi rồi trám lại. Không đau nữa. Không đau tí nào. Nhưng nó chết rồi, chị ạ, và cái người có cái răng ấy thì không biết."
Họ đi tới cuối làng, chỗ có một cái ao và một dãy nhà quay lưng ra ao, rồi vòng lại.
Về gần đình thì Ngọc nhìn thấy ông từ.
Ông đang quét sân. Một ông cụ nhỏ người, lưng còng, mặc áo nâu, đi dép nhựa, tay cầm cái chổi tre dài hơn cả người ông. Ông quét chậm, đều, từ gốc muỗm ra phía cổng, và ông quét kỹ đến mức cái sân vốn đã sạch bong lại càng sạch thêm.
"Cụ ơi," Ngọc gọi.
Ông cụ ngẩng lên. Mặt ông hiền, nhăn nheo, mắt hơi đục. Ông cười với cô, một cái cười rất thật, cái cười của một cụ già ở quê thấy con cháu ở xa về.
"Cô ở Hà Nội xuống hả?"
"Vâng ạ. Cụ trông đình lâu chưa ạ?"
"Lâu rồi, cô ơi. Từ hồi ông cụ nhà tôi còn." Ông chống chổi, đứng thẳng lưng lên một chút, khó nhọc. "Cô vào thắp cho ngài nén hương chưa?"
"Cháu thắp rồi ạ."
"Ừ, tốt. Cô đi đường xa xuống thì vào thắp cho ngài một nén, ngài phù hộ cho." Ông cụ lại cúi xuống quét. "Ngài thiêng lắm."
Ngọc đứng nhìn ông một lúc.
"Cụ ơi," cô nói. "Ngài tên gì ạ?"
Cái chổi dừng lại nửa nhịp.
Chỉ nửa nhịp. Rồi nó lại quét, đều như cũ, và ông cụ nói, không ngẩng lên:
"Ngài là đức ông của làng, cô ạ."
"Vâng. Nhưng đức ông tên gì ạ?"
"Cô hỏi thế thì tôi chịu." Ông cụ cười khùng khục. "Tôi có chữ nghĩa gì đâu. Tôi chỉ biết quét cái sân với thắp cái hương thôi. Cô muốn biết thì cô hỏi ông Cẩn, ông ấy có chữ."
Ông quét thêm mấy nhát nữa rồi lom khom đi về phía cổng, kéo theo cái chổi.
Ngọc nhìn theo.
Và cô nhận ra cái làm cô khó chịu từ nãy đến giờ mà không gọi tên ra được.
Cái sân này rộng bằng nửa sân bóng. Trên đầu là hai cây muỗm già đang thay lá, gió thổi cả buổi sáng, và dưới gốc muỗm không có lấy một cái lá rụng nào.
Cô nhìn cái đống rác ở góc sân, chỗ ông cụ vẫn gom lá vào.
Đống ấy khô cong, đã xám, và trên mặt nó có váng rêu.
Nó đã nằm đấy ít nhất một tháng.
Tối, ở nhà ông Tuấn, ba người ngồi với nhau sau bữa cơm. Thư trải sổ ra bàn.
"Em hỏi được mười bốn người," con bé nói. "Em hỏi cùng một câu. Mười bốn người, không ai nói được tên. Nhưng chị ơi, cái đáng sợ không phải chỗ ấy."
"Chỗ nào?"
"Em hỏi thêm một câu nữa. Em hỏi là bác có thấy chuyện không nhớ được tên ngài là lạ không." Thư ngẩng lên. "Mười ba người bảo là không. Bảo là xưa nay vẫn thế mà. Bảo là ai chả gọi là đức ông."
"Còn người thứ mười bốn?"
"Người thứ mười bốn là ông Cẩn," Thư nói. "Ông ấy nói y hệt mười ba người kia. Nhưng lúc em hỏi xong quay ra thì ông ấy gọi em lại."
Con bé lật sang trang sau, và Ngọc thấy tay con bé hơi run.
"Ông ấy bảo em thế này ạ. Ông ấy bảo: cháu ơi, bác đọc cái bài ấy ba mươi hai năm. Bác thuộc từng chữ. Bây giờ bác đọc vẫn trôi, mà bác đọc xong bác không thấy nặng. Ngày trước đọc đến chỗ xưng danh là bác phải ngừng lấy hơi, vì cái tên ấy dài, và đọc xong bác nổi hết da gà. Bây giờ bác đọc một hơi hết bài, nhẹ tênh."
Thư gấp sổ lại.
"Bác không biết bác quên cái gì. Bác chỉ biết là chỗ ấy ngày xưa nó nặng, mà bây giờ nó rỗng."
Chú thích
1. Hòm sắc là hòm gỗ cất giữ các đạo sắc phong của làng, thường đặt ở hậu cung hoặc gian bên đình, phủ vải điều. Theo lệ cũ, sắc được rước ra trình trước dân làng trong chính hội. 2. Rước sắc là nghi thức mở đầu nhiều lễ hội làng: sắc phong được rước từ đình đi quanh làng hoặc từ nơi cất giữ về đình, để dân làng chứng kiến danh hiệu vị thần mình thờ.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 5 →