Làng Hạ Sen nằm ở khúc sông thắt lại, cách Hà Nội bốn mươi cây số về phía tây, và muốn vào làng thì phải qua một cái cầu bê tông hẹp mà xe tải không qua được, nên làng còn giữ được cái vẻ mà mấy làng ven đường quốc lộ đã mất từ lâu.

Lạc chở Ngọc bằng con Win. Thư đi xe buýt xuống trước, ngồi đợi ở quán nước đầu cầu, và khi hai người tới thì con bé đã kịp nói chuyện với bà bán hàng được bốn mươi phút và đã kịp ghi kín hai trang giấy.

"Chị," Thư nói, vừa thấy Ngọc đã đứng bật dậy, "em hỏi bà cụ bán hàng ngoài này rồi. Bà cụ bảo đình làng thờ đức ông."

"Đức ông nào?"

"Đấy," Thư nói. "Em hỏi đúng câu ấy. Bà cụ nhìn em như em hỏi cái gì kỳ cục. Bà bảo là thì đức ông của làng chứ đức ông nào."

Ngọc nhìn về phía làng. Từ đầu cầu nhìn vào chỉ thấy một dãy tre, một cái cổng gạch cũ, mấy nóc nhà, và xa hơn nữa, cao hơn hẳn mọi thứ khác, là bốn cây cột đồng trụ của một cái đình.

Cô đã nghĩ rằng cô sẽ thấy một cái làng có chuyện. Cái cô thấy là một cái làng ngày Tết. Có trẻ con chạy. Có người phơi quần áo. Có một ông đang chở sau xe máy một cây quất đã rụng gần hết lá, chở đi đâu không rõ.

"Anh Lạc," cô nói. "Anh thấy gì không?"

Lạc đứng cạnh con Win, tay vẫn cầm mũ, và anh đang nhìn xuống đất. Anh nhìn đất theo cái kiểu của người mang Ấn Nhạc Phủ, tức là anh không nhìn cái mặt đất, anh nghe cái dưới nó.

Anh đứng im khá lâu.

"Đất ở đây không có gì cả," anh nói.

"Nghĩa là sạch à?"

"Nghĩa là không có gì cả." Anh quay lại nhìn cô, và mặt anh có cái vẻ mà cô rất ít khi thấy ở anh, cái vẻ của người vừa sờ tay vào chỗ đáng lẽ phải có tường. "Chị Ngọc, làng nào có đình thì dưới đình phải có một cái mạch. Nhỏ thôi, cạn thôi, nhưng phải có. Bốn trăm năm người ta thắp hương ở một chỗ thì cái chỗ ấy nó dày lên, nó thành cái rễ. Tôi đi qua làng nào tôi cũng nghe được cái rễ ấy, kể cả làng bỏ đình đi làm nhà văn hóa."

"Còn đây?"

"Đây có cái hố," Lạc nói. "Đúng chỗ cái đình. Đúng cái hình dạng của một cái rễ. Nhưng bên trong rỗng."

Ông Tuấn trưởng thôn đón họ ở sân đình. Ông chừng năm nhăm, người khô, da rám, mặc áo sơ mi bỏ trong quần vì hôm nay có khách, và ông bắt tay cả ba người rất chặt như để chứng minh với chính mình rằng chuyện này là chuyện đứng đắn chứ không phải chuyện mê tín.

Cái đình đẹp. Ngọc không rành kiến trúc, nhưng cô nhìn ra ngay cái đẹp của một chỗ được người ta chăm suốt mấy trăm năm: sân lát gạch bát đã mòn lõm ở lối đi chính, hai cây muỗm già đổ bóng kín nửa sân, mái ngói rêu, và cái gian giữa tối om mát rượi ngay cả lúc ngoài trời nắng.

Và cái đình sạch. Sạch một cách kỳ lạ. Sân không có một cái lá rụng nào, dù trên đầu là hai cây muỗm đang thay lá.

"Bác cho cháu hỏi," Ngọc nói. "Làng mình vào hội ngày nào ạ?"

"Mười hai tháng Giêng," ông Tuấn nói. "Năm nay là rằm."

"Sao lại đổi ạ?"

"Cho nó tiện," ông Tuấn nói, và rồi ông dừng lại, và Ngọc nhìn thấy rất rõ cái khoảnh khắc ông nghe lại chính câu mình vừa nói. "Ừ thì... năm kia có mấy chú trên huyện về, bảo là rằm thì bà con đi làm xa mới về được, chứ mười hai là ngày thường, thanh niên nó đi hết. Nghe cũng phải. Cả làng đồng ý."

"Mấy chú trên huyện tên gì ạ?"

Ông Tuấn mở miệng.

Rồi ông đứng đấy, giữa cái sân sạch bong, và ông không nói gì trong khoảng mười giây, và Ngọc đếm từng giây một.

"Tôi không nhớ," ông nói. Giọng ông đổi hẳn. "Cô ạ, cô đừng tưởng tôi già lẫn. Tôi làm trưởng thôn mười một năm, tôi nhớ số chứng minh thư của cả xóm Đông. Mà tôi không nhớ nổi tên mấy người ấy. Tôi cũng không nhớ nổi mặt."

"Bác bắt đầu thấy không nhớ từ bao giờ?"

"Từ hôm tôi ngồi viết cái giấy mời hội," ông Tuấn nói. "Ba mươi tháng Chạp. Tôi viết cái câu 'kính mời bà con về dự lễ hội truyền thống của làng tưởng nhớ' rồi tôi ngồi im ở đấy, cô ạ. Tôi ngồi im. Tưởng nhớ ai? Tôi cầm bút, tôi nghĩ mãi, và cái tôi nghĩ ra được chỉ là hai chữ đức ông."

Ông đưa tay chỉ vào gian giữa.

"Năm nào tôi cũng vào đây thắp hương. Từ bé tôi đã vào đây. Tôi biết cái cột nào có vết dao khắc của tôi hồi mười tuổi. Mà cô hỏi tôi thờ ai thì tôi..."

Ông bỏ lửng.

"Bác hỏi các cụ chưa ạ?" Thư hỏi.

"Hỏi rồi. Hỏi cả rồi." Ông Tuấn cười, một cái cười không có gì vui. "Cụ Bảng chín mươi tư, cụ bảo là đức ông. Cụ Thoa tám mươi bảy, cụ bảo là đức ông. Ông Hội trưởng hội người cao tuổi bảo là ngài. Tôi hỏi ngài nào, ông ấy bảo ngài của làng."

"Còn văn tế ạ?" Thư nói. "Hội thì phải có văn tế, mà văn tế thì phải xưng danh."

"Đấy, cô nói trúng cái chỗ tôi hoảng." Ông Tuấn quay hẳn người lại phía cô. "Ông Cẩn là người đọc văn tế mấy chục năm nay. Năm ngoái ông ấy đọc, cả làng đứng nghe. Tuần trước tôi sang nhà ông ấy xin lại cái bản để in ra cho các cháu tập. Ông ấy tìm khắp nhà không thấy. Ông ấy bảo là ông ấy đọc thuộc chứ không cần bản. Tôi bảo thế bác đọc cho cháu chép. Ông ấy đọc."

Ông Tuấn dừng.

"Ông ấy đọc trôi chảy suốt từ đầu đến cuối, cô ạ. Hay lắm. Đến chỗ xưng danh thì ông ấy đọc là 'đức ông bản cảnh Thành hoàng'. Tôi bảo bác ơi, chỗ này ngày xưa có tên. Ông ấy bảo làm gì có tên, xưa nay vẫn thế. Tôi bảo bác ơi năm ngoái bác đọc có tên, cháu còn nhớ là bác đọc dài hơn thế này nhiều. Ông ấy nhìn tôi..."

Ông Tuấn im.

"Ông ấy nhìn tôi như thể tôi mới là người lẫn."

Họ vào trong đình.

Trong gian giữa tối, mát, và có mùi. Ngọc nhận ra cái mùi ngay lập tức vì cô đã lớn lên bên cạnh một cái điện: mùi hương vòng lâu ngày ngấm vào gỗ, mùi bụi khô, mùi vải cũ. Đó là mùi của một chỗ được thắp hương đều đặn.

Nhưng ở dưới cái mùi ấy có một mùi khác.

Ngọc đứng yên, hít vào, chậm.

Bùn. Không phải bùn sông, không phải cái mùi tanh mát của phù sa mà cô ngửi thấy suốt dọc đường đi. Cái này là mùi bùn đọng, thứ bùn ở đáy một cái ao đã cạn từ lâu, cái mùi khi người ta lật cái lớp váng lên.

"Anh Lạc," cô nói khẽ.

"Tôi ngửi thấy rồi," Lạc nói.

Trên hương án, giữa những đồ thờ đã lên nước bóng vì mấy trăm năm tay người, có một bài vị.

Bài vị bằng gỗ, sơn son, thếp vàng ở diềm. Nó cũ, nó thật, nó đúng là cái bài vị của một cái đình bốn trăm tuổi.

Mặt trước nhẵn thín.

Không một chữ nào.

Thư bước tới gần, chậm, và con bé đưa tay lên nhưng không dám chạm, và Ngọc nghe tiếng con bé thở ra.

"Chị ơi," Thư nói. "Không phải bị mờ. Không phải bị tróc sơn."

"Sao em biết?"

"Vì gỗ ở chỗ đáng lẽ có chữ nó thấp hơn xung quanh," Thư nói. "Chị nhìn cái viền này. Nó còn nguyên. Chỉ có cái mặt giữa là bị hạ xuống một lớp."

Con bé quay lại, mặt trắng bệch trong cái tối của gian đình.

"Có người bào đi ạ. Bào rất phẳng, rồi sơn lại cho khớp màu. Kỹ lắm. Phải là thợ."

Chú thích

1. Bài vị đặt trên hương án đình làng thường ghi tước hiệu và mỹ tự của vị Thành hoàng được thờ, do triều đình ban qua sắc phong; đây là chỗ ghi danh tính vị thần một cách chính thức nhất trong đình. 2. Văn tế đọc trong lễ hội làng theo lệ phải xưng đủ tước hiệu vị thần được tế. Người đọc văn tế thường là một vị cao niên có chữ nghĩa, giữ việc này nhiều năm.

Hết Chương 3
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 4 →
← TrướcTiếp →