Sáng mùng năm, Ngọc dậy lúc bốn rưỡi như mọi ngày trong đời cô.

Cô không cần đồng hồ báo thức. Bà cô ngày xưa dậy giờ ấy, mẹ cô dậy giờ ấy, và cái thân thể cô cứ đến khoảng bốn giờ hai mươi là tự mở mắt trong bóng tối, nằm thêm mười phút nghe tiếng xe rác đi qua đầu ngõ, rồi ngồi dậy. Cô xuống nhà, mở cửa cuốn lên đúng một nửa cho đỡ ồn, bắc ấm, đổ nước, bật bếp ga. Cái bếp ga này van hơi kẹt, phải vặn ngược lại một chút rồi mới vặn xuôi thì lửa mới bắt. Cô làm cái động tác ấy mà không nghĩ tới nó, như người ta thở.

Cô ngồi xuống bên bếp, tay ôm lấy ấm cho ấm tay, và trong lúc đợi nước sôi, cô để cho mình được sợ.

Cô cho phép mình mười phút mỗi sáng. Đó là thỏa thuận cô tự đặt ra với chính mình từ hôm mùng hai, cái hôm cô mở bảng tính của Thư ra lần đầu và thấy cái con số ba nghìn. Mười phút, ngồi một mình trong bếp, trời chưa sáng, không ai nhìn thấy, và trong mười phút ấy cô được sợ đủ mọi thứ cô muốn sợ. Sợ rằng bốn mươi mốt người mất liên lạc kia đã chết. Sợ rằng cô Diệu trao hội cho cô là vì bà không còn ai khác để trao chứ không phải vì cô xứng. Sợ rằng cô ra một cái lệnh và một đứa nào đó ở Hòa Bình đi theo cái lệnh ấy rồi không về. Sợ nhất là cái ý nghĩ này, cái ý nghĩ mà cô chưa nói với ai: rằng đêm ba mươi cô gõ cái tiếng trống ấy để cứu một cái đền, và cùng lúc cô đã bật đèn cho ba nghìn người đứng lộ giữa trời, và bây giờ có kẻ đang đi nhặt họ.

Nước sôi. Ngọc tắt bếp. Hết mười phút.

Cô rót nước tráng ấm, đổ đi, cho trà vào, chế nước, đậy nắp. Rồi cô kéo nốt cửa cuốn lên và bê cái bàn con ra vỉa hè, và cô lại là người bán nước.

Người khách đầu tiên của ngày đến lúc trời còn chưa tỏ hẳn.

Ông ta chừng năm mươi, mặc cái áo khoác nâu bạc màu, đi bộ, tay không, và ông ta đi cái kiểu của người đã đi từ xa lắm. Ông dừng trước quán, nhìn cái ấm, rồi nhìn Ngọc.

"Cô cho tôi xin chén nước."

Ngọc rót. Cô đặt chén xuống trước mặt ông, và cô không hỏi gì cả. Không hỏi ông đi đâu, không hỏi ông từ đâu tới, không hỏi tên. Bà cô ngày xưa dạy cô đúng một câu về cái nghề này, dạy hồi cô mới lên chín, dạy trong lúc rửa chén ở cái chậu nhôm sau nhà: người ta ngồi xuống hàng nước là người ta đang đi dở đường, và người đi dở đường thì không thích bị hỏi. Cứ rót. Người ta muốn nói thì người ta nói.

Ông khách uống hết chén nước, chậm, hai tay. Rồi ông đặt chén xuống, ngồi thêm một lúc nhìn ra phố, và ông nói, không nhìn cô:

"Ngày xưa ở đây có một bà cụ bán nước ngay chỗ này."

"Bà cháu ạ."

"Tôi có ngồi hàng cụ mấy lần," ông nói. "Lâu rồi. Cụ cũng không hỏi gì tôi cả."

Ông móc túi lấy ra hai tờ tiền lẻ đã cũ mềm, đặt xuống bàn, cẩn thận vuốt cho phẳng, rồi đứng dậy. Đi được ba bước, ông quay lại.

"Cô cứ giữ cái nếp ấy," ông nói. "Sau này nó cứu cô đấy."

Rồi ông đi, khuất ở chỗ ngã tư, và Ngọc ngồi lại với hai tờ tiền lẻ và một cái cảm giác mơ hồ rằng mình vừa được dặn dò một chuyện gì đó quan trọng bằng một giọng rất bình thường.

Cô cất tiền vào hộp. Cô không nghĩ thêm về nó. Cô còn phải đi.

Điện của cô Diệu ở sâu trong ngõ, cái ngõ hẹp đến mức hai người tránh nhau phải nghiêng vai. Ngọc đi bộ vào, tay xách một túi cam và một hộp sữa, và cô đi chậm lại ở đoạn cuối như mọi lần, vì mỗi lần vào đây cô đều phải sửa lại nét mặt trước khi bước qua cửa.

Cô Diệu ngồi trên phản, chân xếp bằng, trước mặt là cái cơi trầu. Bà đang têm. Tay bà run, nên miếng trầu bà têm ra bây giờ không còn được cái nếp cánh phượng như xưa, nó hơi méo, và bà biết nó méo, và bà vẫn têm.

"Con ngồi xuống đây," bà nói, không ngẩng lên. "Đứng ở cửa nhìn ta như nhìn người ốm là ta biết ngay."

Ngọc ngồi xuống mép phản.

"Con định giấu ta cái gì?"

"Con không giấu."

"Con giấu." Bà đặt miếng trầu vào cơi. "Từ hôm mùng hai tới giờ con không sang. Trước kia hai hôm con sang một lần, có khi ngày nào cũng sang. Bây giờ con làm chủ cái hội này rồi, con nghĩ là con không được phép sang kể khổ với ta nữa. Đúng không?"

Ngọc không trả lời. Bà cụ nhìn cô, và cái nhìn ấy làm cô thấy mình lại chín tuổi.

"Ta trao hội cho con," cô Diệu nói, "chứ ta có trao cái tội gánh một mình cho con đâu. Đứa nào bảo con thế?"

"Không ai bảo con."

"Ừ. Con tự bảo con. Cái ấy còn tệ hơn." Bà với tay lấy chén nước, uống một ngụm nhỏ, đặt xuống. "Nói ta nghe."

Và Ngọc nói. Cô nói về ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt dòng, về bốn mươi mốt cái ô tô vàng, về mười chín người Lạc gặp được trong ba ngày, về cái nhà ở Phú Thọ nhớ là có người đến mà không nhớ nổi mặt, và về cuộc gọi chiều qua của ông trưởng thôn Hạ Sen.

Cô Diệu ngồi im rất lâu sau khi cô nói xong. Bà nhìn xuống cái cơi trầu.

"Con nhắc lại ta nghe cái câu cuối của ông ấy."

"Ông ấy bảo: làng tôi sắp vào hội, mà tôi hỏi khắp làng, không ai nói được cho tôi biết là làng tôi đang thờ ai."

Bà cụ gật đầu, chậm. Rồi bà làm một việc khiến Ngọc chú ý, vì bà làm nó rất nhanh so với cái tốc độ của bà bây giờ: bà quay người, với tay xuống dưới phản, kéo ra một cái hộp gỗ, mở, và lấy trong đó ra một quyển sổ.

Quyển sổ bìa da, đã sờn hết bốn góc, gáy được khâu lại bằng chỉ dù màu xanh. Nó dày, và nó phồng lên vì bên trong kẹp thêm giấy tờ.

"Con biết cái này là cái gì không?"

"Con thấy cô ghi vào đấy suốt."

"Bốn mươi hai năm," cô Diệu nói. "Tên. Ngày. Ai thức Ấn ở đâu, ngày nào, ai đi xác minh, ai nhận. Từ hồi ta còn phải nhờ người đèo xe đạp đi Hà Đông. Trong này có tên bố con." Bà đặt quyển sổ xuống phản, giữa hai người. "Bây giờ ta hỏi con một câu, và con phải trả lời ta thật."

"Vâng."

"Nếu ngày mai ta chết," cô Diệu nói, bình thản như hỏi giờ, "thì cả cái hội này còn ai nhớ được những cái tên trong quyển sổ này, ngoài quyển sổ này ra?"

Ngọc mở miệng, rồi ngậm lại.

"Không ai," bà nói thay cô. "Ta cũng đã nghĩ đúng cái ý ấy suốt từ đêm ba mươi." Bà đẩy quyển sổ về phía cô. "Con cầm về. Bảo con Thư nó chép lại. Chép hết. Ta không tin cái máy tính của nó, nhưng ta còn không tin cái đầu ta hơn."

Ngọc đặt tay lên quyển sổ. Nó nặng hơn cô tưởng.

"Còn cái làng kia," cô Diệu nói, và giọng bà đổi, cái giọng bà chỉ dùng khi bà nói về nghề, "thì con xuống ngay đi, đừng đợi qua rằm. Con nghe ta nói cái này. Ta làm cái nghề này bốn mươi hai năm, ta gặp đủ chuyện, đền cháy ta gặp rồi, đình bị dỡ ta gặp rồi, tượng bị mất đầu ta gặp rồi."

Bà nhìn Ngọc.

"Nhưng cả một làng không nhớ nổi mình thờ ai thì ta chưa gặp bao giờ. Và ta nói thật với con là ta sợ cái ấy hơn tất cả những cái kia cộng lại."

Chú thích

1. Đình làng là nơi thờ Thành hoàng của làng, đồng thời là chỗ hội họp việc làng. Sự tích và tước hiệu vị thần được ghi trong thần tích và các đạo sắc phong do triều đình ban, làng thường cất giữ trong hòm sắc tại đình.

Hết Chương 2
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 3 →
← TrướcTiếp →