Đến mùng bốn Tết thì Ngọc hiểu rằng cô đã thắng một trận và thua ngay cái phần đến sau trận thắng.
Cô ngồi ở quán, trước mặt là cái khay inox đựng chén, bên cạnh khay là điện thoại, và điện thoại đã sáng liên tục từ sáng mùng hai. Cô kê nó dựa vào phích nước cho dễ nhìn. Màn hình có một vết nứt chạy chéo từ góc trên bên trái, vết ấy có từ đêm Cổ Loa, và cô chưa thay vì tiếc tiền, và bây giờ thì cô không thay vì không còn thì giờ mà nghĩ tới chuyện đi thay.
Trên màn hình là một danh sách. Danh sách ấy do Thư lập, bằng một cái bảng tính mà con bé dựng vội trong hai ngày Tết, và đầu bảng con bé gõ một dòng tiêu đề rất tỉnh: NGƯỜI MỚI THỨC ẤN, ĐANG XÁC MINH.
Ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt dòng.
Ngọc kéo màn hình xuống. Kéo mãi. Mỗi dòng là một cái tên, một số điện thoại, một địa chỉ chép vội, và một ô ghi chú. Ô ghi chú là chỗ khiến cô lạnh người. Đa số các ô ấy trống. Một số ghi "báo qua đền, chưa gặp". Một số ghi "người nhà báo hộ". Một số ghi "không liên lạc lại được". Và có bốn mươi mốt dòng, Thư tô màu vàng, ghi ba chữ: "đã đi khỏi".
Đi khỏi. Nghĩa là cái đêm ba mươi, ở một xó nào đó của cái đất này, có một người tự nhiên thấy trong ngực mình bừng lên một thứ mà cả đời họ chưa gặp, họ sợ, họ gọi cho ai đó, ai đó chép lại tên họ vào một cái bảng tính, rồi sau đó không ai gọi lại được nữa. Bốn mươi mốt người. Ngọc không biết trong bốn mươi mốt người ấy có bao nhiêu người chỉ đơn giản là đổi số, bao nhiêu người sợ quá nên tắt máy trốn, và bao nhiêu người đã bị ai đó đến trước.
Cô đặt điện thoại úp xuống khay.
Con phố Hàng Buồm ngày mùng bốn vẫn còn cái vẻ lười của Tết. Mấy nhà mở hàng lấy ngày, treo một tấm biển đỏ, bán được vài thứ rồi đóng. Người đi lễ đền Bạch Mã lác đác, ăn mặc đẹp, đi chậm. Có một bà mặc áo dài gấm đứng lại trước quán cô hỏi mua chai nước lọc, Ngọc đưa, bà trả tiền, bà đi. Bà không biết. Không ai biết. Bốn ngày trước, cách chỗ bà đứng bốn chục bước chân, cô đã gõ một tiếng trống và cả cái đất nước này đã cựa mình.
Và bây giờ cô phải trả cái giá của tiếng trống ấy, và cái giá là ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt cái tên mà cô không biết một ai.
*
Lạc đến lúc gần trưa, dựng con Win ở vỉa hè, tháo mũ, ngồi phịch xuống cái ghế nhựa xanh gãy chân. Cái ghế ấy Ngọc kê bằng một viên gạch từ hồi bà cô còn sống. Ai lạ ngồi vào cũng chao một cái rồi giật mình. Lạc thì ngồi quen, ngồi cái là chỗ nào cần ghì thì anh ghì, ghế không nhúc nhích.
"Ba tỉnh," anh nói. "Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Nam. Đi từ mùng hai tới giờ."
"Được bao nhiêu người?"
"Mười chín."
Ngọc nhìn cái bảng tính trong đầu mình, ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt dòng, và mười chín.
"Chị đừng nhìn tôi cái kiểu ấy," Lạc nói. "Mười chín là tôi ngồi được với người ta, nghe người ta kể, xem cái dấu trên tay người ta, rồi bảo người ta phải làm gì để đừng lóe nữa. Mỗi người mất nửa buổi. Chị muốn nhanh hơn thì chị bảo tôi cách."
"Em không bảo anh cách," Ngọc nói. "Em đang tính xem mình cần bao nhiêu người như anh."
"Một trăm bảy mươi," Lạc nói ngay, và cái sự anh đã tính sẵn làm cô sợ hơn cả con số. "Tôi cũng ngồi tính rồi. Một trăm bảy mươi người, làm liên tục ba tháng, thì gặp hết được cái danh sách kia. Hội mình có bao nhiêu người đi được, chị biết đấy."
Cô biết. Bốn mươi ba. Trên cả nước. Trong đó có mười một cụ đã ngoài bảy mươi, và có cô Diệu, người mà từ đêm mở giá tới giờ đi ra đầu ngõ còn phải vịn tường.
"Còn cái này nữa," Lạc nói. Anh móc trong túi áo khoác ra một tờ giấy gấp tư, vuốt ra, đặt lên bàn. "Ở Phú Thọ. Một thằng bé mười sáu, thức Ấn đêm ba mươi. Đến mùng hai thì có người tìm tới nhà nó trước tôi."
"Trấn Long?"
"Không mặc vest, không đi xe biển đẹp, không nói chuyện tiền," Lạc nói. "Người ta tự xưng là hội mình."
Ngọc ngẩng lên.
"Nói giọng ngoài này, biết cả tên cô Diệu, biết cả cái điện trong ngõ," Lạc nói. "Ngồi với nhà nó hai tiếng. Uống nước. Ăn kẹo lạc. Xong bảo là để mai hội cử người xuống đón cháu. Rồi đi."
"Rồi sao?"
"Rồi hôm sau tôi xuống," Lạc nói. "Và nhà nó chào tôi rất tử tế, và nhà nó bảo là hôm qua các anh chị xuống rồi mà, và tôi hỏi các anh chị nào, và cả nhà nó ngồi im."
Anh dừng.
"Không phải im vì giấu, chị ạ. Im vì họ không nhớ nổi cái mặt. Bố nó nhớ là có người đến. Nhớ là hai tiếng đồng hồ. Nhớ là ăn kẹo lạc. Không nhớ được mặt, không nhớ được tên, không nhớ được mấy người. Mẹ nó thì bảo là ba người. Bố nó bảo hình như một."
Ngọc rót cho anh một chén trà. Trà đã nguội từ lâu, cô rót thêm nước sôi vào ấm, cái mùi trà hâm lại bốc lên hơi gắt.
"Thằng bé đâu?" cô hỏi.
"Vẫn ở nhà. Không sao cả. Đấy mới là cái làm tôi khó chịu." Lạc cầm chén trà nhưng không uống. "Nếu là Trấn Long thì họ bắt nó đi rồi. Đằng này không ai đụng vào nó. Chỉ đến, ngồi, rồi về. Như thể người ta đến để xem."
"Xem gì?"
"Tôi không biết," Lạc nói. "Tôi làm cái nghề này mười năm, chị Ngọc ạ. Tôi quen cái loại đến để lấy. Tôi chưa gặp cái loại đến để xem."
*
Chiều mùng bốn, Thư sang, ba lô nặng như mọi khi, và con bé không kịp chào, ngồi xuống là mở máy tính ra luôn, cái máy tính có nắp dán đầy giấy nhớ.
"Chị ơi, em phải nói cái này trước khi em quên," Thư nói. "Cái bảng của em không dùng được nữa."
"Sao lại không dùng được?"
"Vì em lập nó theo kiểu danh bạ. Tên, số, địa chỉ. Mà cái mình cần không phải danh bạ." Con bé tháo kính ra, dụi mắt, đeo lại. "Mình cần cách phân biệt. Ba nghìn người xưng là mang Ấn, mình có bốn mươi ba người đi xác minh, mỗi ca nửa buổi. Em ngồi tính suốt đêm qua. Kể cả mình làm hết công suất, tới tháng Sáu mới xong. Từ giờ tới tháng Sáu, ai xưng gì mình cũng phải tin."
Ngọc thấy cái lạnh ban sáng quay lại, lần này rõ hơn.
"Nghĩa là ai đi vào cửa hội bây giờ," cô nói chậm, "mình cũng mở."
"Vâng." Thư nhìn cô. "Và người ta biết thế."
Ba người ngồi im. Ngoài kia có tiếng pháo điện tử của một nhà nào đó mở đi mở lại một khúc nhạc Tết, khúc ấy đã mở suốt bốn hôm, và cái loa rè nên đến đoạn cao là tiếng vỡ ra.
Điện thoại Ngọc rung. Số lạ, đầu số cố định.
Cô nghe. Đầu dây bên kia là giọng một người đàn ông trung niên, giọng vùng bãi, nói nhanh và hơi hụt hơi như người vừa đi bộ tới chỗ có sóng.
"Cô cho tôi hỏi có phải cô là cô Ngọc bên hội không ạ. Tôi là Tuấn, trưởng thôn Hạ Sen. Cụ Diệu ngày trước có xuống làng tôi một lần, cụ để lại số, nhưng số cụ giờ gọi không được."
"Vâng, cháu đây ạ. Bác cần gì ạ?"
Bên kia im một nhịp. Rồi ông ấy nói, và ông ấy nói bằng cái giọng của người đã nghĩ suốt mấy hôm mới dám gọi.
"Đình làng tôi có chuyện, cô ạ. Tôi cũng không biết gọi là chuyện gì. Nói ra thì cô lại bảo tôi lẩn thẩn."
"Bác cứ nói."
"Làng tôi sắp vào hội," ông Tuấn nói. "Mà tôi hỏi khắp làng, không ai nói được cho tôi biết là làng tôi đang thờ ai."
Chú thích
1. Thăng Long tứ trấn gồm bốn ngôi đền trấn giữ bốn phương của kinh thành Thăng Long xưa: đền Bạch Mã (trấn Đông), đền Voi Phục (trấn Tây), đình Kim Liên (trấn Nam) và đền Quán Thánh (trấn Bắc). 2. Thành hoàng làng là vị thần bảo hộ riêng của một làng cụ thể, ngự tại đình làng. Mỗi làng thờ một vị khác nhau, có tên riêng và sự tích riêng; xuất thân có thể là người có công khai canh lập làng, ông tổ nghề, tướng lĩnh, hoặc thần núi thần sông.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →