Ngọc đưa cho ông Sâm trước, lúc bảy giờ sáng mùng ba, ở nhà ông.

Cô đưa ba tờ giấy, và cô nói ngắn: đây là phiếu điều tra thần tích năm một chín ba tám của làng ta, bản gốc hiện lưu ở Hà Nội, cháu chụp lại. Bác đọc rồi bác quyết.

Ông Sâm đeo kính lên.

Ông đọc chậm. Ông đọc bằng ngón tay, dò từng dòng, cái kiểu của người không quen đọc chữ nhiều.

Đến đoạn giữa thì ngón tay ông dừng lại.

Ông đọc lại đoạn ấy. Rồi đọc lại lần nữa.

Rồi ông tháo kính ra, gấp lại, đặt xuống bàn.

"Cô lấy cái này ở đâu?"

"Ở Viện Thông tin Khoa học xã hội ạ. Năm ba tám người Pháp gửi phiếu về khắp các làng, bắt khai thần tích với sắc phong. Gần mười ba nghìn làng. Bây giờ vẫn còn."

"Ai khai cái này?"

"Cháu không biết tên ạ." Ngọc nói. "Chữ ký ở cuối là chức, không phải tên. Chắc là lý trưởng hoặc người có chữ trong làng hồi ấy."

Ông Sâm nhìn tờ giấy trên bàn.

"Năm ba tám thì ông nội tôi hai mươi tuổi," ông nói.

Rồi ông đứng dậy.

Ông đi ra cửa, đứng nhìn ra sân một lúc, quay lại, và khi ông nói thì giọng ông đã khác hẳn.

"Cô ở với họ Nguyễn phải không."

"Bác..."

"Cô xuống làng tôi hôm kia. Tối qua cô ngồi với ông Thoan ngoài sân nhà văn hóa một tiếng đồng hồ. Sáng nay cô mang cái này đến nhà tôi." Ông chỉ vào tập giấy. "Cô bảo tôi tin cô à?"

"Bác Thoan chưa xem cái này ạ," Ngọc nói. "Cháu đưa bác trước."

"Sao lại đưa tôi trước?"

Ngọc ngồi im một lúc.

Đây là chỗ cô đã nghĩ suốt đêm, và cô đã định nói một câu khác, và bây giờ ngồi trước mặt ông thì cô bỏ cái câu ấy đi.

"Vì bác mất nhiều hơn," cô nói.

Ông Sâm đứng chết trân.

"Bác làm khánh tiết mười bảy năm," Ngọc nói. "Bác được bầu vì bác là trưởng tộc của cái họ có thần. Bác Thoan đọc cái này xong thì bác ấy chỉ mất một cái ông ấy vẫn cãi. Còn bác thì mất cái bác đang có."

Cô đứng dậy.

"Cháu đưa bác trước để bác có thì giờ. Cháu không đưa cho xã, không đưa cho ai khác. Từ giờ đến hội còn bốn hôm. Bác muốn làm gì thì làm, cháu không nói với ai."

Cô đi ra tới cửa thì ông gọi giật lại.

"Cô Ngọc."

Cô quay lại.

Ông Sâm đang đứng bên bàn, một tay chống lên mặt bàn, và mặt ông xám lại.

"Cái đứa trẻ ấy," ông nói. "Cái thúng trôi ấy."

"Vâng ạ."

"Ba tuổi." Ông nhìn xuống tờ giấy. "Người ta nuôi luân phiên mỗi nhà một tháng."

Ông đứng đấy một lúc.

"Nhà tôi cũng nuôi," ông nói. "Nhà ông Thoan cũng nuôi. Nhà nào ở cái làng này chả nuôi."

Ông Thoan thì đọc hết trong bốn phút.

Ông đọc nhanh, không dò ngón tay, và đọc xong ông đặt tờ giấy xuống rất nhẹ, như đặt một cái gì dễ vỡ.

Rồi ông ngồi im, hai tay chồng lên đầu cây gậy nhôm, cằm tì lên tay.

"Cô có biết cái này nghĩa là gì không," ông nói.

"Cháu nghĩ là ngài không thuộc họ nào ạ."

"Không." Ông Thoan lắc đầu. "Cái ấy là cái dễ. Cái ấy đọc là ra."

Ông ngẩng lên.

"Cái này nghĩa là hai mươi năm qua tôi sai."

Ngọc không nói gì.

"Tôi không sai một chút đâu, cô ạ. Tôi sai to." Ông cụ nói bình tĩnh, và cái bình tĩnh ấy khó nghe hơn nếu ông giận. "Năm lẻ ba tôi là người viết cái bản khai lý lịch ngài cho hồ sơ di tích. Tôi viết. Tôi mở gia phả họ tôi ra, tôi thấy có tên ngài, tôi mừng quá, tôi chép vào."

Ông gõ nhẹ gậy.

"Năm lẻ sáu ba người phải đi khâu ở sân đình. Có một thằng bên họ Đào gãy tay, nó tên là Đào Văn Quý, hồi lớp bảy nó là học trò tôi."

"Bác đưa cái này cho bác Sâm được không ạ?" Ngọc hỏi.

Ông Thoan cười.

Ông cười thành tiếng, một tiếng ngắn, không vui.

"Cô ơi," ông nói. "Cô biết từ nhà tôi sang nhà ông Sâm bao xa không?"

"Cháu không ạ."

"Bốn trăm mét. Đi bộ sáu phút." Ông nhìn ra sân. "Còn cái bữa cơm hôm kia, hai cái mâm ấy, cách nhau đúng ba mét."

Ông quay lại nhìn cô.

"Ba mét ấy tôi không đi qua được ba mươi năm rồi, cô ạ. Không phải hai mươi. Ba mươi. Trước cả vụ hồ sơ di tích. Từ hồi chia ruộng khoán."

Ngọc về nhà khách lúc gần trưa.

Lạc đang ngồi ngoài hiên vá cái săm xe.

"Sao chị?"

"Đưa rồi."

"Rồi sao?"

"Rồi đợi," Ngọc nói.

Cô ngồi xuống bậc thềm cạnh anh.

"Anh Lạc này. Có một chỗ tôi tính sai."

"Chỗ nào?"

"Tôi tưởng cái khó là làm cho người ta tin cái tên ấy đúng." Cô nhìn ra sân. "Cả hai ông đọc là tin ngay. Không ông nào cãi lấy một câu. Cái giấy ấy nó nói rõ quá, và cả hai ông đều đủ khôn để biết là nó thật."

"Thế cái khó là gì?"

"Là bây giờ phải có một trong hai ông đứng lên trước cả làng và nói ra," Ngọc nói. "Mà nói ra thì đằng nào cũng thành ra mình đang cãi thắng nhà kia. Ông Thoan nói thì họ Đào bảo là ông ấy bịa để bôi nhọ. Ông Sâm nói thì cả họ ông ấy bảo là ông ấy bán họ."

Lạc dừng tay.

"Nên hai ông ấy sẽ im," anh nói.

"Ừ."

"Cả hai đều biết đúng, cả hai đều im, và cái làng này lại làm hội không xưng danh."

"Ừ."

Lạc ngồi im một lúc, tay còn cầm miếng vá.

"Chị Ngọc, tôi hỏi thật," anh nói. "Nếu bây giờ chị đứng ra chị đọc thì sao? Chị là người ngoài. Chị đọc thì không ai bảo chị bênh họ nào cả."

Ngọc ngồi im.

"Thì làng nghe tôi một hôm," cô nói. "Rồi tôi về Hà Nội. Rồi sang năm đến hội, cái người phải đứng ra xưng danh vẫn là một trong hai ông ấy."

Cô nhặt một hòn sỏi lên, ném xuống sân.

"Cái tên ấy phải ra từ trong làng, anh ạ. Không thì nó chỉ là cái tôi mang xuống rồi mang về."

Mùng bốn, không có gì.

Mùng năm, không có gì. Thư đi đo lại mấy cái cột đá sau đình, tìm được ba chữ mờ trên một cái chân tảng, chụp về đối chiếu, khớp với phiếu năm ba tám. Con bé mừng lắm. Nó chạy về khoe với Ngọc, rồi nó ngồi im, vì nó nhận ra là cái ấy không giải quyết được gì.

Mùng sáu, ông Sâm cho người sang nhà khách mời cả đội tối mai ra đình dự hội, có cỗ.

Không nhắn gì thêm.

Đêm mùng sáu, Ngọc ngồi ngoài hiên nhà khách một mình đến gần một giờ sáng.

Cô nghĩ về cái đêm ở sân đình Hạ Sen, cái đêm ông Cẩn bảy mươi tám tuổi hạ tờ giấy xuống trước cả làng và nói tôi không đọc bừa.

Ông Cẩn làm được cái ấy vì ông chỉ phải chống lại cái quên của chính mình.

Ở đây thì khác. Ở đây cái phải chống lại không phải cái quên. Là ba mét giữa hai cái mâm cơm.

Cô vào ngủ, và cô ngủ được chừng hai tiếng, và cô dậy vì có tiếng gõ cổng.

Bốn rưỡi sáng mùng bảy tháng Ba, ngày chính hội.

Ngọc ra mở.

Ông Thoan đứng ngoài cổng, chống gậy, mặc áo the thâm, khăn xếp trên đầu, quần trắng, giày vải. Ăn mặc chỉnh tề như người sắp ra tế.

Sau lưng ông, cách chừng ba bước, có một người nữa cũng áo the khăn xếp.

Ông Sâm.

"Cô Ngọc," ông Thoan nói. "Cô cho chúng tôi hỏi cái này."

Chú thích

1. Chân tảng là khối đá kê chân cột trong kiến trúc đình chùa cổ; nhiều chân tảng có khắc chữ ghi niên đại hoặc tên người cung tiến, và đây là một trong những nguồn chữ khắc thường sót lại khi các phần gỗ đã bị thay. 2. Áo the thâm, khăn xếp, quần trắng là lễ phục cổ truyền của người đàn ông Bắc Bộ khi tham gia việc tế lễ ở đình làng.

Hết Chương 37
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 38 →
← TrướcTiếp →