Làng Thượng Cát đón đội bằng một bữa cơm.
Đó là cái Ngọc không lường. Cô đã chuẩn bị tinh thần để bị đuổi, để bị hỏi giấy tờ, để phải ngồi ngoài quán nước đầu làng nửa buổi chờ người ta xem có tiếp hay không. Cô đã đi ba làng như thế trong tháng Giêng.
Thượng Cát thì khác. Cô gọi điện cho ủy ban xã hôm hai mươi ba tháng Hai, xưng là người của hội Nêu, nói là muốn hỏi chuyện đình làng. Đến chiều thì có người gọi lại. Đến hôm sau thì có một ông chú xưng là Đào Văn Sâm, trưởng ban khánh tiết, hỏi các cô các cậu xuống hôm nào, để tôi bảo nhà bếp.
Họ xuống mùng hai tháng Ba. Còn năm hôm là hội.
Và cái bữa cơm ấy, Ngọc ngồi ăn được đúng mười lăm phút thì hiểu ra vì sao làng này tiếp mình tử tế đến thế.
Bữa cơm bày ở nhà văn hóa thôn, hai mâm.
Mâm bên phải là ông Sâm và bốn năm ông nữa. Mâm bên trái là một ông cụ gầy, tóc bạc trắng, mặc áo sơ mi cộc tay đã ngả vàng, và ba bốn người nữa quanh ông.
Hai mâm kê cách nhau chừng ba mét.
Ngọc được mời ngồi mâm bên phải. Lạc và Trọng ngồi cùng cô. Thư thì bị ông cụ bên mâm trái gọi sang, ngọt nhạt, bảo là cô giáo trẻ ngồi đây với các cụ cho vui.
Hai bên gắp thức ăn cho khách của mình rất chu đáo. Hai bên rót rượu cho khách của mình rất đầy. Hai bên nói chuyện rất to.
Và trong suốt bữa cơm, không một ai ở mâm này nói với một ai ở mâm kia lấy một câu.
"Cô ăn miếng giò," ông Sâm nói, gắp cho Ngọc. "Giò làng tôi tự gói đấy. Không phải giò chợ."
"Cháu cảm ơn bác."
"Cô ở Hà Nội xuống thì cô cứ hỏi tôi," ông Sâm nói. "Cái gì thuộc về đình làng này thì tôi nắm. Tôi làm khánh tiết mười bảy năm."
Ông hạ giọng, chỉ đủ cho ba người ở mâm nghe.
"Có người ngồi bên kia lát nữa sẽ kể cô nghe chuyện khác. Cô cứ nghe. Nghe xong thì cô sang hỏi lại tôi."
Ông cụ mâm bên trái tên là Nguyễn Đình Thoan, tám mươi mốt tuổi, nguyên hiệu trưởng trường cấp hai của xã.
Ông đợi đến lúc dọn mâm mới sang.
Ông đi rất chậm, chống một cây gậy nhôm, và ông sang mâm bên phải, và ông chào ông Sâm rất lễ phép, và ông Sâm cũng chào lại rất lễ phép.
"Chú Sâm cho tôi mượn cô Ngọc một lát."
"Bác cứ tự nhiên."
Ông Thoan dẫn Ngọc ra sân.
Ngoài sân có mấy cái ghế đá. Ông ngồi xuống, đặt cây gậy ngang đùi, và ông nhìn ra cái sân gạch một lúc lâu trước khi nói.
"Cô biết vì sao làng tôi tiếp cô tử tế thế không?"
"Cháu bắt đầu đoán ra ạ."
"Ừ, cô tinh." Ông cười. "Vì cả hai bên đều tưởng cô xuống để phân xử."
"Cô nghe tôi kể cho nhanh," ông Thoan nói. "Rồi cô muốn hỏi gì thì hỏi."
Ông kể, và ông kể như người từng dạy học bốn mươi năm: có mở, có mốc thời gian, có nhắc lại chỗ quan trọng.
Đình Thượng Cát thờ một vị Thành hoàng. Vị ấy có tên, và cái tên ấy hai chục năm trước cả làng đều thuộc, vì năm nào đọc văn tế cũng xưng.
Rồi năm hai nghìn lẻ ba, làng làm hồ sơ xin công nhận di tích.
"Làm hồ sơ thì phải khai lý lịch ngài," ông Thoan nói. "Ngài quê đâu, con ai, có công gì. Trước đấy chả ai hỏi mấy câu ấy bao giờ. Ngài là ngài, thế thôi."
Ông gõ nhẹ cây gậy xuống nền gạch.
"Đến lúc phải viết ra giấy thì mới lòi."
Họ Đào bảo ngài là tổ đời thứ tư của họ Đào, có gia phả chép, có bằng chứng là khu mộ tổ họ Đào nằm ngay sau đình.
Họ Nguyễn bảo không phải, ngài là tổ họ Nguyễn, có gia phả chép, có bằng chứng là cái tên ngài trùng chữ đệm với ba đời liền của họ Nguyễn.
"Rồi sao ạ?"
"Rồi cãi." Ông Thoan nhún vai. "Cãi ở nhà văn hóa. Cãi ở ủy ban. Cãi trên báo huyện có một lần. Năm lẻ sáu thì đánh nhau ở sân đình đúng hôm chính hội, ba người phải đi khâu, một anh bên họ tôi gãy tay."
Ông im một lúc.
"Sau vụ ấy thì xã bảo là thôi. Xã bảo là các bác muốn giữ hội thì giữ, nhưng cái phần xưng danh thì bỏ đi cho tôi nhờ."
"Bỏ luôn từ năm ấy ạ?"
"Bỏ luôn từ năm ấy," ông Thoan nói. "Hai mươi năm rồi."
Ngọc ngồi trên ghế đá và cô nghĩ về cái ông vừa nói.
"Bác ơi," cô nói. "Thế hội vẫn làm chứ ạ?"
"Vẫn làm. To là khác." Ông Thoan cười khẩy. "Có rước, có cỗ, có hát chèo mời tận trên tỉnh về. Năm nào cũng đông. Con cháu đi làm xa về đông lắm."
"Chỉ không xưng danh."
"Chỉ không xưng danh."
"Thế lúc tế thì các cụ khấn thế nào ạ?"
"Khấn bản cảnh Thành hoàng." Ông nhìn cô. "Cô hiểu rồi đấy. Đúng bốn chữ ấy. Hai mươi năm."
Ngọc thấy trong ngực mình cái lạnh quen thuộc.
Đức ông bản cảnh Thành hoàng.
Y hệt Hạ Sen. Y hệt cái bảng đá granite ở cổng. Y hệt cái khoảng trắng trong tờ văn tế của ông Cẩn.
Chỉ khác một chỗ, và cái chỗ khác ấy làm cô lạnh hơn.
Ở Hạ Sen, có kẻ đến bào cái tên đi.
Ở đây thì không ai bào cả. Làng tự bỏ.
"Bác Thoan," cô nói. "Bác còn nhớ tên ngài không ạ?"
Ông cụ không trả lời ngay.
Ông nhìn ra sân, và trong khoảng lặng ấy Ngọc nghe được tiếng dọn mâm bát trong nhà, tiếng ông Sâm cười to với ai đó.
"Cô hỏi câu ấy khôn lắm," ông Thoan nói.
"Cháu không định khôn ạ."
"Không, cô hỏi khôn thật." Ông quay lại. "Vì nếu tôi nói là tôi nhớ, thì cô sẽ hỏi tôi nhớ tên gì, và tôi nói ra thì tôi đang khai một cái tên có lợi cho họ tôi. Còn nếu tôi bảo tôi không nhớ, thì cô sẽ thương tôi."
Ông gõ gậy.
"Tôi nhớ," ông nói. "Tôi tám mươi mốt, tôi dạy học bốn mươi năm, tôi nhớ tên bốn nghìn đứa học trò. Tôi nhớ tên ngài."
"Bác đọc cho cháu nghe được không ạ?"
"Không," ông Thoan nói.
Ngọc ngẩng lên.
"Tôi không đọc cho cô nghe, cô ạ. Không phải vì tôi giấu cô." Ông nhìn thẳng vào mắt cô, và cái nhìn ấy là cái nhìn của một ông giáo già nhìn một đứa học trò chưa hiểu bài. "Là vì hai mươi năm nay, hễ có ai trong làng này đọc cái tên ấy lên thì lập tức có người hỏi lại: thế theo bác thì ngài họ gì?"
Ông thở ra.
"Cái tên ngài bây giờ không còn là cái tên nữa. Nó thành cái phiếu bầu."
Đêm ấy đội ngủ nhờ nhà văn hóa thôn.
Trọng trải chiếu. Lạc ra ngoài hút thuốc. Thư ngồi bệt xuống sàn, mở laptop, và con bé ngồi im rất lâu trước màn hình.
"Chị ơi," nó nói. "Em nghĩ mình đang gặp cái ngược lại ạ."
"Ngược lại thế nào?"
"Hạ Sen là cái lỗ bị người ta khoét ra." Thư gõ ngón tay lên mép máy. "Còn Thượng Cát là cái lỗ người ta tự bịt lại. Bịt bằng tay mình. Vì hở ra thì đau."
Con bé ngẩng lên.
"Mà cái nguy hiểm thì y như nhau. Nó không quan tâm chị bỏ trống vì sao ạ. Nó chỉ quan tâm chỗ ấy trống."
Ngọc ngồi xuống cạnh con bé.
"Phiếu năm ba tám của làng này em đọc chưa?"
"Em đọc rồi ạ." Thư nói ngay, và giọng nó đổi. "Em đọc từ hôm mười ba tháng Hai. Em đọc đi đọc lại bốn lần."
"Trong ấy ghi gì?"
Thư không trả lời.
Con bé cúi xuống, mở ba lô, lấy ra một cái cặp tài liệu nhựa, và nó không mở cái cặp ấy ra. Nó chỉ đặt lên đùi và giữ bằng cả hai tay.
"Chị ơi," nó nói. "Trước khi em đưa chị, em phải hỏi chị một câu."
"Hỏi đi."
"Nếu cái trong này làm cả làng vỡ ra thì mình có đọc không ạ?"
Chú thích
1. Nhiều làng ở Bắc Bộ có tiền lệ bỏ phần xưng danh trong văn tế hoặc giản lược nghi thức khi trong làng có tranh chấp về thần tích hoặc về quyền chủ tế giữa các dòng họ. 2. Hồ sơ xếp hạng di tích yêu cầu khai lý lịch vị thần được thờ, gồm quê quán, thân thế và công trạng; với nhiều làng, đây là lần đầu những thông tin ấy phải được viết thành văn bản chính thức.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 36 →