Bốn người đổ xuống ở sân đền sáng hôm ấy được đưa vào ba bệnh viện khác nhau.
Ba người sống.
Người thứ tư là bà Kính, bảy mươi tuổi, bán hoa ở chợ Bưởi, mất tích từ tháng Một. Bà không sống. Ngọc đến nhà bà chiều hôm sau, và cô ngồi với con dâu bà hai tiếng, và cô nói dối một nửa và nói thật một nửa, và cô đưa cho chị ấy cái làn nhựa với mấy bó hoa đã héo mà người ta nhặt được ở sân đền.
Chị ấy khóc, và chị ấy bảo là ba tháng nay chị ấy vẫn nhắn tin vào máy mẹ chồng, biết là không ai đọc mà vẫn nhắn.
Ngọc về, và tối hôm ấy cô ghi vào quyển sổ bìa da dòng thứ sáu.
Nguyễn Thị Kính, 70 tuổi, bán hoa chợ Bưởi. Mất tích tháng Một. Con dâu vẫn nhắn tin.
Chị Hằng nằm viện chín ngày.
Bác sĩ ghi trong bệnh án là suy kiệt, mất nước, rối loạn điện giải, và một dòng nữa mà Thư đọc xong thì phải quay đi: mất trí nhớ về khoảng thời gian từ tháng Chạp.
Chị ấy không nhớ gì cả. Chị ấy nhớ đêm ba mươi Tết, nhớ cái nóng bừng lên trong ngực, nhớ mình sợ quá gọi cho bác ruột, nhớ mình bắt xe lên Hà Nội. Rồi hết.
"Thế cháu ở đâu suốt bốn mươi ngày hả cô?" chị ấy hỏi Ngọc.
Ngọc ngồi bên giường, và cô nghĩ mất một lúc.
"Chị ở một chỗ không ai gọi tên chị," cô nói. "Bây giờ thì hết rồi."
Cái hội thì không lành lại nhanh như thế.
Nhưng nó lành hơn Ngọc dám hy vọng, và nó lành vì một lý do rất tầm thường: ông Tuấn.
Ông trưởng thôn Hạ Sen về làng chiều mười một tháng Hai, và trong hai tuần sau đó ông kể cái ông nhìn thấy ở sân đền Voi Phục cho bất cứ ai chịu nghe. Ông kể ở nhà văn hóa. Ông kể ở đám cưới con ông Hội trưởng hội người cao tuổi. Ông kể ở quán nước đầu cầu. Ông kể mãi đến mức vợ ông phải bảo ông là thôi ông ạ, người ta chán rồi.
Ông không kể chuyện con cáo. Ông bảo cái ấy ông kể thì người ta cười.
Ông kể cái chuyện một đứa con gái bán nước ngồi bệt xuống nền gạch giữa hai nghìn người, tráng chén, rót nước, rồi mời một vị thần rót cho dân một chén.
Chuyện ấy đi từ Hạ Sen sang Đông Trù, rồi sang mấy làng nữa, rồi có người trong hội Nêu ở Thường Tín nghe được, rồi bà Sáu gọi điện cho Ngọc.
Bà không xin lỗi. Bà chỉ hỏi tuần sau cô có xuống chỗ tôi được không, có việc.
Ngọc nói vâng.
Đội họp ở quán tối mười bảy tháng Hai, đủ năm người.
Vọng mang cuốn sổ của anh tới, và anh đọc cái anh chép được dưới gốc muỗm, và anh đọc chậm, và khi đọc xong thì không ai nói gì trong một lúc lâu.
Cái làm cho một cái tên thành của mình không phải là mặc nó. Là có người chịu gọi nó lâu.
"Chép lại đi," Ngọc nói. "Chép ra làm năm bản. Mỗi đứa giữ một."
"Để làm gì ạ?" Trọng hỏi.
"Để năm nay đứa nào mệt quá muốn bỏ thì giở ra đọc," Ngọc nói.
Rồi Thư trải cái bảng ra giữa bàn.
"Chị ơi em phải nói cái này trước," con bé nói. "Em nói xong rồi mình bàn."
"Nói đi."
"Mình gỡ được chín cái lốt trong bốn mươi ngày. Chín trên chín. Sạch." Thư gõ bút chì. "Mà chị ơi, chín không phải là số đạn của nó. Chín là sức chứa."
Lạc ngẩng lên.
"Nghĩa là nó mặc lại được?"
"Vâng ạ. Chừng nào trên cái đất này còn một cái tên bị bỏ trống thì nó còn chỗ để bước vào." Con bé đẩy tờ giấy ra. "Và bây giờ mình biết chính xác có bao nhiêu cái tên bị bỏ trống ở cái vòng cung quanh Hồ Tây."
Cô lật sang trang thứ hai.
Hai mươi mốt dòng.
"Hai mươi mốt cái làng," Thư nói. "Hai mươi mốt cái cửa còn mở. Nó xuống nước hôm mười một tháng Hai, nó nghỉ, rồi nó ngoi lên, và nó đi lại đúng cái đường cũ, vì cái đường cũ vẫn còn nguyên."
"Bao lâu?" Ngọc hỏi.
"Em không biết ạ. Vài tháng. Có khi nó đợi sang năm."
"Thế thì bịt," Lạc nói.
"Vâng." Thư gật. "Bịt bằng cách trả lại tên."
Con bé lật sang tờ thứ ba, và đây là tờ nó đã làm suốt chín ngày ngồi ở hành lang bệnh viện.
Ba cột.
Cột một: tên làng.
Cột hai: tên vị thần, đọc được từ phiếu năm ba tám.
Cột ba: ngày chính hội của làng ấy.
"Mười chín làng em có tên," Thư nói. "Hai làng phiếu thất lạc, em chưa có gì. Còn cái ngày hội thì em hỏi được hết mười chín, em gọi điện cho ủy ban từng xã."
"Mười chín, không phải hai mươi mốt," Ngọc nói. "Còn Hạ Sen với Đông Trù?"
"Em để hai làng ấy ra ngoài bảng này ạ," Thư nói. "Tên mình biết rồi, từ hồi tháng Giêng. Nhưng ngày hội của cả hai đều đã qua trong năm nay, chị nhớ không, Hạ Sen là rằm tháng Giêng, sớm hơn cả cái ngày mình lập ra cái bảng này. Đợt tới thì phải chờ đúng một vòng nữa, sang tận rằm tháng Giêng năm sau."
Cô lật một trang riêng, kẹp phía sau bảng ba cột, chỉ có hai dòng.
Hạ Sen: Đàm Thị Nhu. Đã khất một năm với ông Cẩn, hẹn rằm tháng Giêng năm sau.
Đông Trù: đã có tên, tra hội xã sau, hội làng rơi vào cữ cuối năm nay, ưu tiên thấp hơn vì đình còn mở đều, không cấp bách như 19 làng kia.
"Hai làng ấy không nằm trong mười chín, cũng không phải nhóm mình bỏ," Thư nói. "Là nhóm mình đã hẹn riêng rồi, chỉ chưa tới ngày."
Ngọc gật đầu, ghi nhớ, rồi kéo tờ giấy chính về phía mình.
Cô đọc cột ba.
Mùng bảy tháng Ba. Mười hai tháng Ba. Rằm tháng Ba. Mùng chín tháng Tư. Hai mươi tháng Tư. Mùng một tháng Năm...
Cô đọc hết mười chín dòng.
Cái dòng cuối cùng ghi: Hai mươi ba tháng Chạp.
"Rải khắp năm," cô nói.
"Vâng ạ."
"Không dồn được à?"
"Không ạ." Thư nói. "Chị ơi, một cái tên chỉ được đọc to lên trước cả làng vào đúng một ngày trong năm. Ngày hội của làng ấy. Muốn sớm hơn thì phải họp làng bất thường, mà họp làng bất thường để sửa lại tên thần thì..."
"Thì họ đuổi mình ra," Lạc nói.
"Vâng ạ."
Ngọc ngồi im rất lâu, tay đặt lên tờ giấy ba cột.
Cô đã tưởng cái khó nhất của mùa đông này là cái sân đền Voi Phục. Cô đã đi tới đấy với ý nghĩ rằng qua được sáng mười một tháng Hai thì xong.
Bây giờ cô nhìn mười chín cái ngày rải suốt mười hai tháng, và cô hiểu ra rằng sáng mười một tháng Hai chỉ là cái ngày cô giành lại được quyền đi làm cái việc thật.
"Được," cô nói.
Cô ngẩng lên.
"Cái đầu tiên là ngày nào?"
"Mùng bảy tháng Ba ạ," Thư nói. "Làng Thượng Cát. Còn mười tám hôm."
"Thần làng ấy tên gì?"
Thư đọc.
Ngọc nhắc lại một lần, chậm, cho thuộc.
"Có vấn đề gì không?"
"Có ạ." Con bé nhìn xuống. "Em gọi cho ủy ban xã. Người ta bảo là làng ấy hai chục năm nay không tế nữa, vì hai họ trong làng cãi nhau ngài là tổ họ nào, cãi to lắm, có năm đánh nhau ở sân đình. Sau đấy làng bỏ luôn phần xưng danh cho khỏi cãi."
"Bây giờ thì sao?"
"Bây giờ vẫn mở hội ạ. Có rước, có cỗ, có hát. Chỉ không xưng danh."
Ngọc gật đầu chậm.
"Nghĩa là làng ấy không quên," cô nói. "Làng ấy tự bỏ."
"Vâng ạ."
"Cái ấy khó hơn."
"Vâng," Thư nói. "Em nghĩ là khó hơn nhiều ạ."
Đêm ấy, sau khi mọi người về, Ngọc kéo cửa cuốn lên nhìn ra phố.
Cái bàn con vẫn kê ngoài vỉa hè. Cái phích vẫn ở đấy. Cái bìa các tông cô viết bằng bút dạ sáng mười một tháng Hai vẫn dựng trên bàn, chữ đã nhòe vì mưa phùn.
NƯỚC MIỄN PHÍ. AI KHÁT CỨ RÓT.
Cái phích rỗng.
Bên cạnh nó, có ai đó để lại một cái phích khác, loại nhỏ, còn nóng. Có ai đó rửa lại chồng chén và úp lên khay. Có ai đó nhét dưới cái khay một tờ hai mươi nghìn gấp tư.
Ngọc đứng nhìn cái bàn ấy một lúc lâu.
Rồi cô ngồi xuống cái ghế nhựa xanh gãy chân kê bằng viên gạch, rót cho mình một chén, và cô mở quyển sổ bìa da ra, lật đến trang trắng, và cô viết bằng nét chữ hơi ngả về bên phải:
Mùng 7 tháng Ba: làng Thượng Cát.
Còn 18 hôm.
Cô gấp sổ lại.
Ngoài kia, cách chỗ cô ngồi bảy cây số về phía tây bắc, mặt nước Hồ Tây đã dâng lại đủ bốn mươi phân, và bùn ven bờ đã ngập trở lại, và không ai còn nhắc tới cái mẩu tin ba giờ chiều hôm mười một tháng Hai nữa.
Hết Quyển Ba.
Chú thích
1. Nhiều làng ở Bắc Bộ có tiền lệ bỏ phần xưng danh trong văn tế hoặc giản lược nghi thức khi trong làng có tranh chấp về thần tích hoặc về quyền chủ tế giữa các dòng họ. 2. Lễ hội làng ở đồng bằng Bắc Bộ rải gần như khắp năm âm lịch, nhưng dày nhất vào tháng Giêng, tháng Hai và tháng Ba.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 35 →